HÌNH ẢNH SÀI GÒN XƯA

Logo que huong

9 Com tho 1CƠM THỐ LÀ CƠM GÌ ?

Cơm là thực phẩm chánh của người Việt mình từ xưa đến nay. Có nhiều loại cơm quen thuộc như cơm trắng, cơm tẻ, cơm nếp, cơm chiên, cơm vắt, cơm nguội, cơm tấm, cơm tay cầm, v.v.. Nhưng cái tên “cơm thố” nghe lạ tai với không ít người Việt mình ở hải ngoại.

Cơm thố là cơm gì ?

Cơm thố là làm chín gạo trong cái thố nhỏ bằng cách chưng cách thủy. Mỗi thố cơm tương đương độ một chén cơm nhỏ. Đây là cách nấu cơm cầu kỳ theo truyền thống của một số dân tộc người Hoa. Theo như kể lại, cơm thố có mặt ở Sài Gòn-Chợ Lớn vào thập niên 30-40 của thế kỷ trước. Đến thập niên 70, do khăn gói gió đưa từ Gò Công lên Sài Gòn, tôi mới có cơ hội làm quen với vài “món ngon vật lạ” ở đô thành hoa lệ trong đó món cơm thố Chợ Cũ.

Chợ Cũ Sài Gòn nguyên là chợ Bến Thành, đã có trước khi Pháp chiếm Gia Định. Chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, gần thành Gia Định, bến nầy dân gian gọi là Bến Thành và chợ có tên là chợ Bến Thành. (xem thêm Lịch sử chợ Bến Thành)

Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định, quân triều đình Huế dùng chiến thuật hỏa công, thành phố và chợ Bến Thành bị thiêu hủy. Năm 1860, sau khi “bình định” xong Gia Định, Pháp đã cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ, cột bằng gạch, sườn gỗ và lợp lá.Vào năm 1887, Pháp cho lấp con kinh, sát nhập hai con đường lại làm một, thành đại lộ Charner, nay là đại lộ Nguyễn Huệ. Khu chợ càng trở nên đông đúc mà phần nhiều là của người Tàu, người Ấn và người Pháp.

Năm 1912, vì chợ cũ kỹ nên Pháp lựa chọn một địa điểm khác để xây cất một khu chợ mới lớn hơn. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (sau nầy là bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.

9 Com tho 2Khu chợ Bến Thành cũ được gọi là Chợ Cũ tới nay. Nên có câu ca dao :

Chợ Bến Thành dời đổi,

Người sao khỏi hợp tan.

Xa gần giữ nghĩa tào khang,

Chớ ham nơi qườn quới,

(mà) phụ phàng bạn xưa !

Chợ Cũ xưa có nhiều tiệm cơm thố.

Ngon mà giá bình dân là những tiệm cơm thố nằm góc đường Tôn Thất Đạm – Hàm Nghi. Đa số người đến tiệm là người Việt gồm đủ thành phần xã hội. Người ra vào tiệm tấp nập chủ yếu vì món cơm thố ngon thơm, dẻo và luôn luôn nóng mà giá cả rất “bèo” như tiếng Sài Gòn bây giờ.

Phần tôi lần đầu tiên được ông bạn vong niên mời ăn cơm thố Chợ Cũ. Vào tiệm thấy người ta kêu những món mà từ nhỏ tôi chưa được ăn bao giờ như cá hấp, gà nướng, bồ câu quay, canh cải bẹ xanh nấu với cá thác lác v.v..

Thấy có người vào ăn một hơi cả chục thố cơm, mà đồ ăn chỉ với một dĩa cá mặn rất ư là khiêm nhường. Cơm thố Chợ Cũ từ đó đã gây cho tôi nhiều ấn tượng về thế giới ẩm thực của người Hoa. Sau này trở thành dân Sài Gòn, có nhiều dịp ăn cơm thố, tôi mới khám ra nhiều điều thú vị và bí mật về thế giới cơm thố từ lối nấu, cách ăn của Tàu đã du nhập vào người Việt.

Như ở tiệm cơm thố Bac-Ca-Ra sau rạp chiếu bóng Nam Quang (?) thực khách hầu như chỉ có người Việt. Tiệm nổi tiếng nhờ chiêu 9 Com tho 3“khách gọi món gì tiệm nấu món nấy,” bất kể món gì, từ món “cá hàm dỉ,” canh cải bẹ xanh nấu gừng, đến món cá chưng, cá hấp v.v.. Thế mà thực khách ai nấy đều vui vẻ chờ đợi!

Nay nói về cái thố hấp cơm.

Thố là dụng cụ để đựng bằng sành sứ, là đồ dùng trong gia đình như chén, dĩa, tô, tộ. Thố có nhiều cỡ kiểu, có loại có quai/ không quai, có loại có nắp/ không nắp. Ngày xưa, nhà giàu ở miền Tây thường hay chưng một cặp thố kiểu loại lớn, trên bàn thờ trông cho sang.

Thố kiểu nhỏ được dùng đựng nước cúng, đơm cơm, đựng cơm rượu xôi vò v.v.. dọn trên bàn thờ trong ngày giỗ, ngày Tết. Thố bằng sành thì được dùng để hấp cơm, tiềm thuốc bắc. Thố kiểu làm bên Trung Hoa, còn thố sành được làm ở Bình Dương.

Nồi và xửng hấp cơm thố cũng rất đặc biệt.

Nồi to, trong nồi đặt cái xửng lớn có hai, ba từng hấp, xửng đan bằng tre có nhiều lỗ thoát hơi lớn bằng ngón tay cái. Phần chứa nước sôi của nồi hấp có chỗ tiếp thêm nước nóng mà không cần dời các từng chứa cơm, tránh không làm cho cơm bị “hót hơi.” Các thố cơm sắp thưa và đều trong mỗi từng hấp để còn chỗ cho hơi nước bốc lên từng trên cùng.

Gạo dùng nấu cơm thố 

Là loại gạo ngon đặc biệt như gạo Sóc Nâu, gạo hột dài, gao nàng hương Chợ Đào. Cho ít gạo, đã được gúc sạch để ráo nước, vào từng cái thố sành. Tùy theo loại gạo mà gia giảm nước. Nước chỉ được châm vào thố một lần mà thôi, không được châm thêm. 9 Com tho 4Tất cả đều do kinh nghiệm của người bếp làm sao cho cơm vừa ăn, không khô, không nhão.

Người bếp phải biết chắc từng cơm nào đã chín để chuyển qua từng khác, bằng cách chồng nhiều từng cơm đã chín lên nhau để chỉ giữ cơm luôn được nóng. Hấp cơm thố quả là cầu kỳ và công phu ! Cơm thố như vậy là “cơm trắng đặc biệt”, không giống như cơm trắng thường nấu bằng nồi đất mà chúng ta ăn hằng ngáy ở nhà. Hột gạo trong thố được làm chín bằng cách hấp nên mùi thơm của gạo len ẩn vào trong ruột hột cơm, làm cho cơm thố thơm hơn cơm nấu. Cơm thố còn có đặc tánh nữa là giữ nóng lâu, để nguội hấp lại mà không bị khô. Đặc tính nầy cơm nấu thường không có.

Vào tiệm cơm thố, “phổ ky” bưng lên, ăn bao nhiêu tính tiền bấy nhiêu. Bạn không cảm thấy ăn cơm thừa của người khác. Thố cơm bé xíu, trông hấp dẫn, và hai đũa là hết. Bạn thấy ngon hơn ăn cơm bới trong nồi.

Được biết tới nay vẫn còn một tiệm cơm thố kỳ cựu ở số 45, đường Tản Đà, quận 5, Chợ Lớn, mang bảng hiệu tiếng Việt là Giang Nam, nổi tiếng nhờ bán độc nhứt món cơm thố, không bán thêm mì hủ tiếu như tiệm khác. Bảng hiệu cơm thố Giang Nam có mặt vào khoảng 1942, nhờ được đạo diễn phim Người Tình (quay năm 1992) chọn để tái hiện cảnh sanh hoạt hàng ngày của Chợ Lớn thời thập niên 30-40 thế kỷ trước,9 Com tho 5 làm cho cơm thố Giang Nam thêm tiếng tăm.

Cũng nên phân biệt cơm thố với cơm tay cầm

Cơm tay cầm là loại phục vụ cho nhiều người, dọn chung cho cả bàn cùng ăn. Cơm tay cầm là cơm nấu chung với thức ăn, là cơm tổng hợp, người ăn không phải ăn kèm với thức ăn nào khác. Thức ăn như hải sản, gan heo, gà quay… hấp chung với cơm trắng trong cái nồi nhỏ có một một quai, gọi là tay cầm. Cơm tay cầm cũng được làm chín bằng cách hấp cách thủy, sau khi chín có tiệm còn bắc xoong cơm tay cầm lên bếp lửa cho cơm khét phần dưới.

Tại Little Saigon đó đây còn có tiệm còn bán món cơm tay cầm. Riêng món cơm thố Chợ Cũ của tôi chỉ còn là “vang bóng một thời.” Khoa học tiến bộ, nấu cơm bằng nồi điện, làm cho cơm thố Chợ Cũ đã bị lùi vào trong ký ức! Đúng là đời sống văn minh làm cho “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” như lời Chân Quê của Nguyễn Bính! Kể cũng tiếc… (nguồn: GS Trần Văn Chi)

9 Cho cu 4CHCŨ Ở ĐÂU ?

Một trong những món ngon vang bóng một thời của Sài Gòn là cơm thố, có mặt ở Sài Gòn – Chợ Lớn từ hàng trăm năm trước. Trôi theo dòng chảy thời gian, món cơm này tưởng đã đi vào dĩ vãng. Nhưng thật may mắn khi một vài quán ăn lâu đời vẫn còn lưu giữ cách nấu cơm độc đáo này.

Nhắc đến cơm thố Sài Gòn, nhiều người thường liên tưởng đến khu chợ Cũ lừng lẫy một thời. Rất nhiều món ngon ở khu vực chợ trên đường Tôn Thất Đạm (quận 01) đã hằn sâu trong ký ức của người Sài Gòn như hủ tiếu cá, cháo cá (mà học giả Vương Hồng Sển từng nhắc đến trong đoạn mở đầu của tác phẩm “Sài Gòn Năm Xưa”, 1960, mà nay đã không còn nữa), cơm thố, hủ tiếu, bánh mì xíu mại…

Xin nói thêm một chút về lịch sử của chợ Cũ. Theo nhiều tài liệu thì từ đầu thế kỷ thứ 17, khi người Việt đến lập cư ở vùng đất phương Nam, thì Sài Gòn cũng trở thành nơi phố chợ đông đúc, náo nhiệt nhất Nam kỳ. Ở khu vực dọc bờ sông Bến Nghé, cạnh thành Quy đã hình thành một khu chợ nhỏ, nhưng buôn bán rất sầm uất.

Theo sử cũ, khu chợ này ngày xưa là một “phố chợ nhà cửa trù mật ở dọc theo bến sông.  Chỗ đầu bến này có lệ đến đầu mùa xuân gặp ngày tế mạ, có thao diễn thủy binh, nơi bến có đò ngang chở khách buôn ngoài biển lên. Đầu phố phía Bắc là ngòi Sa Ngư, 9 Cho cu 2có gác cầu ván bắc ngang qua, hai bên nách cầu có dãy phố ngói, tụ tập trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông ghe buôn lớn nhỏ đến đậu nối liền”.

Có lẽ do nằm cạnh bến sông và thành cổ nên ngay từ đầu, chợ đã được gọi là Bến Thành.  Thời ấy, đất Gia Định là một vùng nông nghiệp trù phú nên chợ Bến Thành đầy hàng hóa như: gạo, cá khô, tôm khô, cau, đường… bán ra để mua tơ lụa, quả thô, nhang, quạt, trà, đồ sành sứ, thuốc uống, dược thảo… từ nước ngoài mang đến. Khu vực chợ Bến Thành càng trở nên đông đúc và phồn thịnh hơn. Giữa năm 1911, ngôi chợ xuống cấp nặng nề.

Người Pháp phải cho dỡ bỏ, dời về địa điểm gần ga xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho, nay là bến xe buýt Sài Gòn. Khu chợ xưa kia vì đã mang tên “chợ Cũ”, như để nhắc nhớ về một thời hưng thịnh.

Khu chợ ngày xưa nằm bên bờ phía Nam của một con kênh rộng chạy đến trước cửa tòa nhà nay là trụ sở của Ủy ban Nhân dân thành phố, được gọi là Kinh Lớn. Dọc bờ kênh là một con đường, người Pháp đặt tên là Charner, người Việt gọi là Quảng Đông, bởi có nhiều người Quảng Đông làm ăn buôn bán ờ đây. Người Pháp về sau lấp con kênh này (năm 1887) và đổi tên thành đại lộ Charner, rồi sau đổi thành đại lộ Nguyễn Huệ như ngày nay.

Cũng vì thế mà trong chợ Cũ tập trung rất nhiều quán ăn ngon của người Hoa. Trong ký ức của nhiều người Sài Gòn xưa, cơm thố chợ Cũ nổi tiếng vì đa số người Việt thuộc đủ mọi thành phần xã hội thường lui tới. Chủ yếu là nhờ gạo ngon, món ăn ta, Tàu lẫn lộn, giá cả bình dân. Ít tiền thì vào ăn một hơi cả chục thố cơm chỉ với dĩa thịt kho, dưa cải cũng chỉ vài trăm đồng tiền cũ. 9 Cho cu 1Rủng rẻng hơn thì ngồi nhấm nháp một hai thố cơm với những món cao cấp như cá hấp, gà nướng, bồ câu quay…

Bây giờ, chỉ còn duy nhất một tiệm cơm thố ở chợ Cũ là Chuyên Ký nằm ở số nhà 67 Tôn Thất Đạm, ẩn sau những dãy kiosk nên đi ngang qua rất khó nhận biết. Chị Chừng Thúy Thúy, chủ tiệm bây giờ cho biết mình kế nghiệp bà ngoại là Lý Chuyên, người gốc Quảng Đông, bán cơm thố nổi tiếng một thời. Tiệm có từ những năm 1950s, đến nay đã hơn 60 năm tồn tại, là điểm hẹn quen thuộc của nhiều thực khách Sài Gòn.

Món cơm thố ở Sài Gòn là do người Hoa gốc Quảng Đông đem đến, phát âm là “chung phàn” (chung là cái thố, phàn là cơm). Cơm thố là làm chín gạo trong cái thố nhỏ bằng đất nung theo lối chưng cách thủy. Mỗi thố cơm tương đương gần một chén cơm nhỏ. Đây là cách nấu cơm cầu kỳ theo truyền thống của người Hoa.

Thố cơm ở Chuyên Ký được đặt ở lò gốm từ những ngày xa xưa, rất xinh xắn và bền, không như những thố ở hầu hết các hàng quán bây giờ. Chị Thúy Thúy tiếc nuối: nếu những cái thố này bị vỡ đành phải dùng loại bán sẵn trên thị trường, vừa không đẹp bằng mà lại mau vỡ. 9 Cho cu 3Trước đây nhà chị đã đặt vài ngàn thố cơm, nhưng giờ đây kỹ thuật làm gốm này đã thất truyền.

Thật vậy, thố cơm ở đây rất xinh xắn, có màu trắng ngà, mang lại ít nhiều vẻ xù xì của đất nung. Gạo bỏ vào từng thố rồi cho nước vào, đặt trong nồi hấp lớn nhiều tầng. Cơm trong thố sẽ chín bằng hơi nước. Độc đáo và cầu kỳ như vậy nên cơm rất dẻo và ngon hơn cơm nấu trong nồi, cũng như giữ ấm cơm rất dễ.

Mặc dù đã ít món hơn trước kia nhưng thực đơn ở tiệm cơm thố Chuyên Ký cũng rất phong phú: bò xào các loại, dồi trường, cật heo chiên, xào, các món từ thịt gà, cá, tôm, heo, cua, mực, các món tiềm, canh…

Theo hồi ức của một người Sài Gòn xưa về Chuyên Ký thì “một người vô tiệm mà “kiu” món “gà ác tiềm” với món “hầm vĩ”, cộng với 4 thố cơm thì tay này là… 9 Cho cu 5Hạ Hầu Đôn trong Tam Quốc diễn nghĩa. Cơm thố ở đây tuyệt chiêu giống như cơm gà thời phải vô Siu Siu trong Chợ An Đông vậy”.

Món gà ác tiềm thuốc Bắc ở đây có hương vị thơm ngon khác hẳn so với các quán người Hoa cũng bán món này. Bí quyết chính là cân bằng tỉ lệ các món thuốc Bắc cho vào chứ không dùng loại thuốc tiềm bán sẵn như thường thấy.

Sườn xào chua ngọt cũng là một món ngon phải thử. Theo chủ quán, phải luộc sườn cho mềm rồi mới lăn bột năng và chiên, sau đó mới là sốt chua ngọt. Vị chua, ngọt, mặn của món này rất cân đối nên ăn với cơm thố trắng quả là tuyệt đỉnh.

Nhưng độc đáo nhất phải nói đến món “hầm vĩ chưng hột vịt” hoặc “hầm vĩ chưng dấm đường”. Tên nghe rất lạ, nhưng thực ra đây chính là món cá lù đù (hầm vĩ) trộn chung hột vịt rồi hấp hoặc chưng. HNg Huynh V. Yen 3Món này bắt cơm số một, ăn kèm với dĩa rau sống, dưa leo là nhất.

Có rất nhiều món mới du nhập vào Sài Gòn sau này như cơm niêu, cơm tay cầm, cơm bình dân đủ loại dễ nấu, nên người ta không còn ăn cơm thố thường xuyên như trước nữa. Nhưng với nhiều người, thưởng thức cơm thố chợ Cũ cũng là để tìm về những ký ức đẹp của Sài Gòn. Là những hồi ức về Kinh Lớn, về đường Charner, là nhớ đất Gia Định trù phú một thời. (theo Giang Vũ)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 Xe dien 1XE ĐIỆN SÀI GÒN XƯA

Cách nay không lâu, một bài viết trên báo SGGP có đăng bài về xe điện Hà Nội và cho rằng “Sài Gòn xưa và ngày nay chưa có hệ thống tàu điện”. Bài báo lập tức bị phản ứng từ một độc giả gần chín mươi tuổi – nguyên là nhân viên của Công ty xe điện Pháp tại Đông Dương

Độc giả nói trên đã khẳng định sự tồn tại của hệ thống xe điện Sài Gòn trước năm 1945. Bên cạnh đó, chú Tám, nhân viên một ngân hàng của Sài gòn trước đây bổ sung cho người viết thêm những điều tai nghe mắt thấy về hệ thống xe điện Sài Gòn. Điều đáng nói là hệ thống này tổ chức khá tốt, các tuyến lan tỏa đi chung quanh thành phố khá thuận lợi cho người dân.

Rẻ và tiện lợi

Trước năm 1945, chú Tám theo ông anh vô Chợ Lớn, xe điện lúc ấy còn phổ biến. Hai anh em lên xe đi từ đường Galliéni (Trần Hưng Đạo), xe chạy suốt con đường này từ Sài Gòn vô Chợ Lớn mà hai trạm chính là ga Nancy (Nguyễn Văn Cừ bây giờ) và ga Arras (đường Cống Quỳnh). Lúc đó, có lẽ do hình dáng na ná với xe lửa đầu máy hơi nước chạy tuyến Sài Gòn – Đà Lạt hay Sài Gòn – Mỹ Tho (do Sở Hỏa xa Đông Dương quản lý), xe điện ở Sài Gòn được dân chúng gọi cũng bằng tên “xe lửa”.

Tuy vậy, xe điện hình dáng thon gọn hơn, màu sơn đẹp hơn. Trên đầu xe có cái cần câu điện bằng thép cao khoảng 2 mét hình chữ U lật ngược, khi xe chạy thì rà theo đường dây điện chạy dọc theo đường rầy, xẹt ra tia lửa xanh xanh đỏ đỏ vui mắt. Chiếc xe chỉ có một toa, vừa là đầu máy vừa là toa chở khách. Toa xe có hai đầu, không có đuôi. Hai bên thành xe còn có hình quảng cáo, phổ biến nhất là : “Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ” của nhà thuốc Võ Văn Vân, thuốc dưỡng thai Nhành Mai, dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín và kem đánh răng Hynos anh Bảy Chà có hình anh da đen nhe hàm răng trắng bóc.

9 Xe dien 2Bên trong xe có hai dãy ghế bằng gỗ nằm dọc theo chiều dài xe. Khoảng trống ở giữa khá rộng nên hành khách – đa số là giới bình dân – kẻ đứng người ngồi chồm hổm. Xe chạy khá chậm, sắp tới trạm nào thì kêu leng keng. Khách lên xe phải mua vé bằng tấm bìa cứng, màu xanh đậm, hình chữ nhật, khổ cỡ ba phân, dài sáu phân. Lên xe đưa cho nhân viên soát vé, họ xé ở một cạnh hình tam giác, coi như vé đã dùng xong. Chú Tám lúc đó còn trẻ con, thủ ngay vào túi vì đó là thứ đồ chơi phổ biến của con nít Sài Gòn, đứa nào cũng thích sưu tầm cả xấp để chơi tạt giấy.

Đặc biệt là vé mua ở ga nào thì có hình logo của ga đó vẽ trên một tấm bảng trắng bằng kim loại tráng men, theo kỹ thuật làm đồ pháp lam vốn chịu được mưa nắng nhờ lớp men phủ bảo vệ kim lọai bên trong. Chú Tám nhớ ga Sài Gòn có logo hình con cò trắng, ga An Bình có hình con khỉ, ga Arrat Cống Quỳnh hình… cây cào cỏ và ga Chợ Lớn có hình… cái xe bồ ệch (theo tiếng Tây brouyette tức là xe cút kít).

Vào trong xe, khách có thể thấy một ông tài xế không lái xe mà luôn luôn đứng, không ngồi như tài xế thông thường, làm nhiệm vụ giật cái gọng xe điều khiển xe dừng lại hay chạy tới. Phía sau lưng ông có một cái bảng bằng men trắng chữ đen ghi rõ bằng ba thứ tiếng Pháp, quốc ngữ và bằng chữ… Nôm. Nội dung “Xin đừng nói chuyện với người coi máy”. Do có hai đầu, khi xe đi theo chiều ngược lại, ông tài xế trở qua đầu kia lái tiếp. Do tốc độ chậm, khách đi xe thường nhảy ra khỏi xe khi gần đến ga. Kinh nghiệm là lúc đó phải bước xuống bậc thấp nhất, quay đầu nhìn về phía cuối xe và bước xuống. Lần đầu nhảy, chú Tám bị chúi về phía trước và suýt tông vào cột điện.

Các tuyến xe điện Sài Gòn

Theo ông Phụng Nghi, trong cuốn Sài Gòn trong mắt tôi xuất bản tại hải ngoại thì Sài Gòn có các tuyến xe điện : Tuyến “xe lửa mé sông” chạy từ Sài Gòn đến Bình Tây, 9 Xe dien 3dọc theo các đường Bến Chương Dương, Bến Hàm Tử, đường Trần Văn Kiểu (theo mé sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé, kinh Tàu Hủ, kinh Bến Nghé).

Tuyến “xe lửa giữa” (vì nằm giữa hai tuyến nội đô) có lộ trình từ Boulevard de la Somme (Hàm Nghi), gần mé sông Sài Gòn chạy theo lộ trình Boulevard de la Somme, Galliéni (Trần Hưng Đạo A), Marins (Trần Hưng Đạo B), Tổng đốc Phương (Châu Văn Liêm), Bonhoure (Hải Thượng Lãn Ông) qua các ga Cuniac, Arras, Nancy, An Bình, Jaccaréo, Rodier.

Tuyến Sài Gòn – Phú Nhuận theo lộ trình : Đường Bonard (Lê Lợi), Paul Blancy (Hai Bà Trưng), qua Cầu Kiệu, đến chợ Xã Tài, nay là chợ Phú Nhuận.

Tuyến Sài Gòn – Hóc Môn qua các ga Đakao, Bà Chiểu, Bình Hòa, Gò Vấp, Hạnh Thông tây, Chợ Cầu, Quán Tre, Trung Chánh.

Rat tot 2Tuyến Sài Gòn – Lái Thiêu – Búng (nay thuộc Bình Dương)

Hệ thống này do Công ty xe điện Pháp tại Đông Dương CFTI (Compagnie Francaise Tramwayélectric Indochine) đảm trách. Hệ thống xe điện tại Hà Nội cũng thuộc Công ty này. Xe điện tồn tại đến thời ông Diệm thì bị dẹp. Lúc đó có người cho rằng các ông trong chính phủ làm ăn mở hãng taxi nên dẹp xe điện khiến nhiều người nghèo luyến tiếc một phương tiện giao thông thân thiện vì rẻ và tiện lợi. (theo Duyên Dáng Việt Nam – Bài: Phiên An)

9 Xich lo may 3NHỚ MỘT THỜI

XÍCH LÔ MÁY TẠI SÀI GÒN

Một người bạn khác nay đã ở tuổi trung niên kể : “Tôi nhớ lúc nhỏ từ Chợ Lớn đi Sài Gòn, mỗi lần đi không ham Taxi, không ham xe bus… mà chỉ đòi cha mẹ ngoắc tay kêu xích lô máy.

Gia đình đông bốn năm người, con nít thì ngồi dưới sàn xe, người lớn ngồi trên nệm như ghế salon, xe chạy ù ù, qua mặt xe khác vù vù, cả nhà đưa mặt ra hứng gió, tai nghe máy mô tô, tiếng pô xe nổ phình – phịch – bình – bình oai phong hết sẩy.”

Một người bạn già khác lại nói : “Tài tình nhất là cảnh xe xích lô máy đút đít xe phía trước. Má ơi, cứ tưởng là cái cản xe thế nào cũng đụng vào xe hơi, xe gắn máy, nhưng hổng sao hết bởi dân lái xích lô máy thiện nghệ vô cùng.”

Một người lớn tuổi hơn kể. “Trước năm 1975, người Mỹ cả dân sự lẫn quân sự đều thích đi xe xích lô máy, một phần vì lạ, phần nữa là ngồi xe xích lô máy có chút mạo hiểm. Tôi nhớ hoài cái cảnh mấy ông Mỹ hứng thú la hét khi xe xích lô máy chạy nhanh chồm tới thiếu điều muốn đụng đít xe hàng.”

Trong dòng thời gian một ngày của Sài Gòn trước đây, tiếng xe xích lô máy thức giấc sớm nhất. Từ các ngả đường của đô thị, xích lô máy chở những người bạn hàng tỏa đi khắp các chợ với đủ loại thực phẩm, hàng hóa hoặc chở khách tỉnh lên Sài Gòn tấp vào tiệm nước làm ly cà phê xây – chừng, cái bánh bao, tô hủ tíu. Cảnh phố khuya thanh vắng tiếng xe xích lô máy vang lên. Một bà bầu nào đó, một đứa trẻ hoặc người 9 Xich lo may 1già trở bệnh, một kỹ nữ hay một người lính VNCH nào đó say mèm đang trên đường với xe xích lô máy.

Tiếng xe xích lô máy nổ như tiếng ồn ồn của một người đàn ông thân thiện. Người ta nhớ rằng thời đó, mỗi góc chúng cư, mỗi ngõ hẻm, bệnh viện, bến xe đều có những bác ba, chú tư, anh hai xích lô máy túc trực; người ta cũng không quên rằng những bác tài xích lô máy đáng được tôn trọng như một biểu tượng về sự an toàn và sự kịp thời trong những tình huống cần kíp của người Sài Gòn.

Theo tìm hiểu thì xích lô máy xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm 1940-1950. Xe do hãng xe Peugeot của Pháp chế tạo. Chiếc xích lô máy ngày xưa với nhiều màu sơn sặc sỡ, xe có thể chở với trọng lượng vài trăm ký lô là bình thường. Người chạy xe xích lô máy thời đó rất cao bồi và tất nhiên được trọng nể hơn người chạy xe xích lô đạp, bởi vì sở hữu được một chiếc xe xích lô máy khoảng gần chục lượng vàng là coi như có một gia tài khấm khá. Thành ra bác tài chạy xe xích lô máy đội nón nỉ, nón cối, đeo kính mát, trông lúc nào cũng phong độ. 9 Xich lo may 2Ngày xưa xe xích lô máy có bến riêng hẳn hoi. Người người còn nhớ ở cầu Hậu Giang, ở khu Bà Chiểu… có những hãng chuyên cho thuê xe xích lô máy.

Ngày nay với chủ trương cấm lưu thông xe cũ nhằm tạo điều kiện để đưa một loại xấu xí nhất thế giới là xe ba-gác Trung Quốc vào chiếm lĩnh thị trường, thì xe xích lô máy coi như đã chết hẳn. Lúc chúng tôi phát hiện mấy chiếc xe xích lô máy tan nát còn đậu chở hàng ở bến chợ Kim Biên, thiệt tình mà nói trong lòng thấy ngậm ngùi quá. Chúng tôi nhớ đến một người bạn thi sĩ nghèo, ông này tâm sự. “Tôi ngày nào cũng mua vé số, cầu cho trúng, chỉ cần trúng đủ mua một chiếc xe xích lô máy còn zin là được. Cha ơi ! Chiều chiều cuối tuần mình chạy xích lô máy chở bạn bè làm vài vòng Sài Gòn để thiên hạ ngày nay biết dân Sài Gòn xưa bảnh như thế nào, sướng phải biết !”

SG Lan HuongTất nhiên, nhiều người chia sẻ cái sự sướng với anh thi sĩ về chiếc xe đặc biệt – đặc trưng của một thời Sài Gòn hoa lệ này. Trước những giá trị sống của dân tộc và đất nước đang trên đà phát triển hiện nay; thôi thì níu kéo làm cuộc mưu sinh và vẻ đẹp trên đường phố của xe xích lô máy.

Nhưng đã là người Sài Gòn thì sao không nhớ xe xích lô máy cho được, sao không nghe tiếng xe xích lô máy vang lên trong ký ức thao thức mỗi đêm. (sưu tầm – Sài Gòn xưa)

Lan Hương chuyển tiếp

TIÊU SƠN NGÔI CHÙA “3 KHÔNG”

Logo phong tuc

9 Chua Tieu son 1TIÊU SƠN

NGÔI CHÙA ”3 KHÔNG”

Ở BẮC NINH 

Giữa đại-dương toàn bùn-hôi.

Lại vẫn còn đóa-sen thơm.

Đi theo con đường Hà Nội – Bắc Ninh, đến ki-lô mét 20, nhìn về phía bên trái, thấy có dải núi đất mọc lên giữa đồng lúa mênh Mông. Tại lưng chừng núi, giữa rừng cây sum suê, thấp thoáng mái chùa cổ kính. Đó là chùa Tiêu Sơn, tên chữ là Thiên Tâm tự, thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Chùa này đã từng được nhà Văn Khái Hưng dùng làm bối cảnh để viết truyện “Tiêu Sơn tráng sĩ” nổi tiếng.

Đây là ngôi chùa thiêng hơn 1.000 năm tuổi, nay được mệnh danh là chùa “Ba không”: Không đặt hòm công đức quyên tiền của khách thập phương. Không cho phép đốt vàng mã, giấy tiền. Không cúng đồ chay hay đồ mặn. Ai tới đây đều được sư bà trụ trì căn dặn : ”đi chùa thì phải tịnh tâm, không mê tín dị đoan, việc đốt vàng mả và rải giấy tiền không có trong đạo Phật”.

Chùa “ba không”

Khi các phóng viên tới, sư bà trù trì pháp danh Thích nữ Đàm Chính, 84 tuổi, lưng còng, vui vẻ mời vào. Theo lời kể của sư bà, cách đây gần 50 năm, tức khi ấy sư bà 34 tuổi, mới về trụ trì tại chùa. Lúc đó chùa rất hoang vu, đổ nát bởi sự tàn phá trong chiến tranh Việt – Pháp mặc dầu chùa rất rộng lớn, đã có từ hơn ngàn năm và được biết đến là nơi tu thiền của các bậc chân tu đời xưa.

9 Chua Tieu son 2Nói tới chùa Tiêu Sơn là nói đến thiền sư Vạn Hạnh, vị đại thiền sư đã có công nuôi dưỡng và dạy dỗ cậu bé “con hoang” Lý công Uẩn, sau này trở thành vua Lý Thái Tổ, vị vua anh minh đã đánh thắng giặc Tàu, khai sáng cơ nghiệp nhà Lý kéo dài hơn 200 năm (thường gọi là nhà Hậu Lý để phân biệt với nhà Tiền Lý của Nam Đế Lý Buôn).

Điều đặc biệt hơn nữa là chùa Tiêu Sơn hiện nay đang bảo quản và thờ Phụng nhục thân tức pho tượng bằng xương bằng thịt thiền sư Như Trí với dáng ngồi “kiết già” (ngồi thẳng lưng,hai chân xếp bằng tròn, mắt hơi nhắm, hai tay bắt quyết để trên đầu gối hoặc chắp lại trong lòng giống như một tác trong Yoga ngày nay chúng ta thường gọi là “ngồi thiền”.

Theo sách vở cho biết, cách đây gần 300 năm, khi thiền sư Như Trí viên tịch, nhục thân của ngài được ướp và xử lý theo dáng ngồi thiền, rồi được các đệ tử thời ấy đặt vào một trong số 14 ngôi tháp rải rác trong “rừng Từ Sơn” thuộc khuôn viên nhà chùa.
Gần 300 năm kể từ khi nhục thân ngài được rước vào tháp, năm 1946, khi chiến tranh xảy ra, chùa bị đổ nát nhưng các tháp vẫn còn nguyên vẹn với những bậc đá dẫn lên tháp khá cao.

Dân chúng trong những năm ấy sợ “pho tượng” nhục thân thiền sư bị xâm hại nên xây bít tháp lại. Nay, sau gần 70 năm trôi qua, các bô lão còn sống chợt nhớ, bèn bàn tính với dân chúng rồi phá cửa tháp, rước nhục thân vị thiền sư ra. Như vậy, gần 300 năm từ ngày thiền sư viên tịch cộng với non 70 năm từ ngày tháp được xây bít, 9 Chua Tieu son 3song nhục thân của vị thiền sư chỉ bị hư hại rất ít, ví dụ hai cẳng tay ngài bị gẫy và mắt bên trái có một lổ hổng.

Đặc biệt, xương ở cẳng tay chỗ gẫy vẫn trắng Như xương bình thường và da thịt khô đét, cứng như gỗ nhưng vẫn giữ được màu nâu chứ không biến thành màu đen như các xác ướp trong Kim Tự Tháp Ai Câp. Điều này chứng tỏ nghệ thuật ướp xác của tiền nhân ta thời xưa rất cao, nếu không nói là hơn thì cũng không kém người Ai Cập với những xác ướp của họ.

Tượng nhục thân thiền sư Như Trí đã được dân chúng mời GS Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường và ê-kíp khảo cổ của ông đưa về Hà Nội phục chế lại hoàn bị, nay đang được thờ trong lồng kính tại nhà thờ tổ của chùa Tiêu Sơn.

Tại chùa Đậu thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây (Hà Đông và Sơn Tây hợp lại, nay là Hà Nội) củng có hai pho tượng nhục thân của hai vị thiền tăng Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh từ thế kỷ thứ 17, tức cách đây khoảng hơn 300 năm, cũng đã được ê-kíp GS Nguyễn Lân Cường phục chế hoàn hảo.

Theo GS Cường, nhục thân của các vị thiền tăng và thiền sư xưa không hiểu được xử lý cách nào mà vẫn còn tốt, cứng như xá lợi (xương nhỏ của các vị sư tổ sau khi thiêu còn sót lại). đốt không cháy, ngâm nước không tan. Ngoài sự độc đáo về nguồn gốc và là bối cảnh cho tác phẩm Tiêu Sơn tráng sĩ nổi tiếng của nhà văn Khái Hưng, hiện nay chùa Tiêu Sơn còn được biết đến là ngôi chùa có một không hai…. Không có hòm công đức.9 Chua Tieu son 6

Nếu ở các đình, đền, miếu tại các địa phương khác, hòm công đức được bày la liệt thì ở đây tuyệt nhiên không có một hòm nào cả. Bởi vậy nên không có cảnh chen lấn lễ bái, bỏ tiền vào hòm xô bồ như thường thấy tại các di tích khác.

Ngoài ra, chùa cũng không nhận lễ vật, không cho phép đốt vàng mả, tiền giấy hoặc rải tiền thật cho người ta nhặt. Nhà chùa cũng khuyến các tăng ni, Phật tử, trên mỗi bát Hương chỉ nên cắm một nén nhang và khi dâng lễ Phật thì chỉ cúng bằng hoa quả tinh khiết, không cúng đồ chay hoặc đồ mặn.

Hoan hỉ phát tâm khi cần tu bổ chùa, khi biết chùa Tiêu Sơn không đặt hòm công đức, nhiều người cho rằng sư bà trụ trì “gàn dỡ”, không nhạy bén với kinh tế. Trước sự chê trách đó, sư bà cười móm mém nói với các phóng viên: “Gần 50 năm trước, khi về đây trụ trì tôi đã nguyện không lập hòm công Đức. Cuộc sống tu hành đâu cần nhiều vật chất. Tôi ở một mình, nếu có hòm công đức lại phải trông coi, nơm nớp lo lắng, đêm ngủ không yên. Biết tôi không có tiền, trộm nào muốn quấy quả nửa”.

Sư bà Thích Nữ Đàm Chính cũng cho rằng chuyện đốt vàng mả, rải tiền thật ở cửa Phật để cầu Xin Phước đức là chuyện hoàn toàn không có trong đạo Phật. Nếu đến chùa dâng tiền, cầu xin Tài lộc mà Phật ban cho thì chẳng hoá Phật nhận hối lộ hay sao? Hoàn toàn sai lầm khi nghĩ rằng hễ có lễ thì Phật phù hộ độ trì. Đến với đạo Phật là để học phương pháp sống an lành,9 Chua Tieu son 5 hạnh phúc cho mình, cho gia đình mình và cho xã hội chứ không phải để cầu xin với những tham vọng tầm thường.

Sư bà nói : ” Điều đáng buồn là hiện nay vấn đề hòm công đức đã trở nên quá phổ biến, rất nặng nề. Chung quanh chuyện hòm công đức, chuyện ái, ố, hỉ, được bàn tán khắp nơi hay trên báo chí. Ban quản lý các chùa chiền, danh lam thắng cảnh cũng tranh thủ tận thu tiền bạc của khách thập phương. Ở nhiều nơi, khách vừa lo lễ bái vừa lo lấy tiền bỏ vào hòm công đức. Mỗi lần rút ví là một cơ hội cho kẻ cắp lợi dụng, do đó chốn linh thiêng bị vẫn đục ngoài ý muốn”.

Sư bà giải thích như vậy. Trước sự khang trang rộng lớn của ngôi chùa với những bậc thang lát đá chắc chắn, sang trọng, nhiều khách thập phương tò mò tự hỏi không có hòm công đức thì chùa lấy đâu ra tiền mỗi khi tu bổ, xây dựng ?

9 Chua Tieu son 4Sư bà cho biết : “Chùa không có hòm công đức nên chẳng có tiền. Khi cần tu bổ, xây dựng chỗ nọ chỗ kia, tôi nhờ người tính toán dự trù kinh phí rồi bàn với ban quản tự, ban quản tự kêu gọi khách thập phương giúp đở. Khi đã nhận đủ tiền rồi thì ban quản tự ngưng lại, không quyên góp thêm nữa. Số tiền ấy được thể hiện minh bạch qua sổ sách và các chứng từ”.

Được biết, có một đại gia kinh doanh thủy sản ở tận Cà Mau, khi biết chuyện nhà chùa đang quyên góp để tu bổ và xây dựng thêm những bậc thang bằng đá,vị đại gia này đã bay ra Hà Nội rồi tới chùa xin đóng góp 500 triệu đồng. Nhưng điều bất ngờ là ban quản tự từ chối vì… chùa đã nhận đủ tiền nên không nhận thêm nữa. Sư bà nhẹ nhàng nói với với vị đại gia : “Con số 500 triệu đồng rất lớn, nếu con đem giúp các trại mồ côi hay các viện dưỡng lão thì lại càng quý hơn nữa”. Vị đại gia đã làm theo lời sư bà trước khi trở về Cà Mau. (theo Đoàn Dự ghi chép)

Logo Que huong

Tranh cho Tan DinhTÂN ĐỊNH – ĐA KAO

MÃI MÃI TRONG TIỀM THỨC

– Trần Đình Phuớc

Cho đến bây giờ, dù đã xa Tân Định và Đa Kao  nhiều năm, nhưng trong tôi hai cái tên Tân Định và Đa Kao lúc nào cũng là một nỗi nhớ khôn nguôi. Chúng cứ thôi thúc tôi hoài. Đã bao năm  qua, tôi muốn tìm về chốn này, để sống lại với kỷ niệm thuở học trò, mà tình yêu khi  đó, chỉ biết, đôi mắt nhìn nhau cũng đủ rồi. Tôi cứ hẹn đi, hẹn lại, nhưng vẫn chưa bao giờ thực hiện được ước mơ này. Rồi một dịp tình cờ đưa đến. Vào tháng 5, năm 2010. Tôi đã toại  được ý nguyện. Tôi đã có hai tuần lễ đi qua, đi lại trên những con đường kỷ niệm của Tân Định và Đa Kao.

Điều làm tôi rất đỗi ngạc nhiên và thích thú là tên nhiều con đường trong khu vực này vẫn như cũ.

Thật vậy, sau 30 tháng 04, năm 1975. Một số tên đường của thành phố Sài Gòn thân yêu đã bị đổi bằng những cái tên xa lạ. Nay được thấy lại các tên đường ở khu Tân Định và Đa Kao không bị thay đổi nhiều, trong lòng tôi bỗng nhiên dâng lên một sự xúc động mãnh liệt và niềm sung sướng vô cùng.

9 Tan Dinh 1Xin mời các bạn cùng tôi tìm về những con đường kỷ niệm của khu Tân Định và Đa Kao với những bồi hồi, rung động khó quên của thời niên thiếu và không bao giờ phôi pha, dù năm  tháng có qua đi.

Trước hết, xin bắt  đầu là Cầu Kiệu với con đường Hai Bà Trưng đi về phía Sài Gòn. Khoảng đường này bên tay phải có hẻm vựa gạo, bác sĩ khám mắt tên Kính, tiệm bán bông cườm, thuốc cam Hàng Bạc và tiệm cà phê Hải Nàm. Phía bên phải có hẻm bán chó, tiệm trà Phật Tổ và tiệm bán xe đạp Đoàn Văn Thẩm.

Quẹo trái ở ngả ba là đường Trần Quang Khải. Phía tay trái là con đường nhỏ  dẫn vô hẻm có tiệm bánh cuốn Thanh Trì ngay đầu ngỏ, đối diện là Hảng Sáo Công Ty, rồi tới trường Việt Nam Học Đường và trường Văn Lang số 51 Trần Quí Khoách do thầy Ngô Duy Cầu làm Hiệu Trưởng. Thầy mất đúng ngày 30 tháng 04, năm 1975. Đối diện trường Văn Lang là Cư Xá Kiến Ốc Cục Tân Định, dành cho công chức. Đi vào phía trong là chùa Vạn Thọ và một số chùa nhỏ khác. Phía tay phải là quán cơm cây Điệp, kế bên là hảng gạch bông Vân Sơn. Nhìn sang bên đường là trường Trung Học Tân Thạnh của Thầy Phan Út. Trước khi vào cổng trường, phải đi ngang bảo sanh viện Ngô Liêng. Bảo sanh viện này mang luôn tên bà.

Đi tiếp khoảng hai trăm thước sẽ gặp một ngả tư. Đường Bà Lê Chân bên tay phải. Ngay góc đường bà Lê Chân là quán cơm tấm của vợ chồng con trai nghệ sĩ Bảy Nhiêu. Đối diện là đình Phú Hoà, nơi các đoàn hát bộ và cải lương tập dượt. Nằm trên đường Bà Lê Chân phía bên trái có nhà in Bùi Văn Tạ, bảo sanh viện Hà Đông Hà. Trước mặt có con đường mang tên Mã Lộ. Con đường này chạy ngang phía sau chợTân Định. Phía đầu đường Bà Lê Chân là ngả ba Hai Bà Trưng và Bà Lê Chân. Nằm ngay góc là Y Viện Tân Định.

Từ đình Phú Hoà nhìn sang bên kia đường là đường Trần Nhật Duật. Xe chè Huỳnh Thị Ngà nổi tiếng một thời, nằm ngay góc ngả tư đường Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật. Đường này chạy dài tới khu nông cơ cũ. Trên đường Trần Nhật Duật có bốn con đường nhỏ đâm ngang qua. Thứ  tự như sau : Đặng Dung, Đặng Tất, Trần Quí Khoách và Trần Khánh Dư. Riêng, hai đường Đặng Dung và Trần Khánh Dư thì chạy dài được đến đường Trần Khắc Chân, còn gọi là xóm Cầu Mới.

9 Tan Dinh 2Trên đường Trần Nhật Duật, hẻm số 21 có tiệm ảnh Nguyễn Kỳ nổi tiếng một thời trong giớí học sinh, thích chụp hình chân dung, nhà số 10 là trường Huỳnh Thị Ngà. Bà Huỳnh Thị Ngà là một phụ nữ giỏi và đảm lược. Bà biết chèo chống và điều hành ngôi trường Huỳnh Thị Ngà, mà kế bên có nhiều trường trung học tư thục khác, lúc nào cũng sẳn sàng cạnh tranh với trường của bà. Nhờ thế trường của bà mới có thể tồn tại hơn hai mươi năm. Bà mất khoảng cuối năm 1992 tại tiễu bang Virginia (Hoa Kỳ).

Đối diện trường Huỳnh Thị Ngà, xéo về đường Đặng Dung là nhà gíáo sư khiêu vũ Nguyễn Trọng, phía trước nhà có cây me to. Cách đó vài căn là nhà Giáo Sư Pháp Văn Huỳnh Văn Mĩ. Thầy Mĩ nổi tiếng về dạy Pháp Văn và là một trong những võ sư sáng lập môn phái Hàn Bái Đường. Không nghe nói về vợ thầy, chỉ thấy thầy đi chợ môt mình, hai tay xách cái gà mên. Thầy qua đời ở Nam Cali năm 2004, hưởng thọ 93 tuổi. Học sinh trường Huỳnh Thị Ngà rất nễ sợ thầy. Trong giờ của thầy dạy, không em nào dám hó hé vì thầy Mĩ rất nghiêm và khó. Ngoài ra, thầy cũng là thầy dạy cô hiệu trưởng Huỳnh Thị Ngà hồi nhỏ.

Bây giờ trở ngược ra đường Trần Quang Khải đi về phía Đa Kao. Trước khi đến một ngả năm. Phía bên phải là phòng nha khoa của một đôi vợ chồng. Vợ là Nha Sĩ tên Hạnh. Chồng là Không Quân Thiếu Tá Nha Sĩ Dương Quảng Định (Trung Tâm Giám Định Y Khoa Không Quân). Đi thêm khoảng ba mươi thước gặp một depot rác nhỏ. Đối diện là chỗ cho thuê sách, tiểu thuyết và truyện hiếm hiệp Đức Hưng, kế bên là tiệm hàn gió đá Sáu An. Cách đó vài căn là nơi chuyên sản xuất xích lô đạp và xe ba bánh có tên Ngọc Quế.9 Tan Dinh 3

Khi  đến ngả năm, bên tay trái là đường Trần Khắc Chân, nhìn xéo về phia tay phải là đường Nguyễn Phi Khanh. Căn nhà nằm ngay góc đường của ông Bùi Ngọc Phương. Ông tự phong cho mình là vua dầu hỏa Việt Nam và dự định ứng cử Tổng Thống VNCH. Nếu đi ngược chiều trên đường Nguyễn Phi Khanh, ngả ba đầu tiên là đường Huyền Quang, có đình Sơn Trà. Đường Huyền Quang mang tên một vị sư. Con đường dài khoảng hai mươi thước, đi hết đường Huyền Quang, quẹo trái lá Chả cá Lã Vọng. Ngả ba kế tiếp là Lý Văn Phức, có một depot rác rất lớn, nơi mà các công nhân vệ sinh đưa rác về đây, trước khi các xe lớn đến chở đi tái chế và phế thải.

Cuối đường là quán cà phê bà Chi, mà các bài viết về cà phê Sài gòn đều nhắc đến. Quẹo trái gặp rạp hát Casino Đa Kao, tiệm may Cao Minh và tiệm thạch chè Hiển Khánh. Đối diên là nhà hàng Pháp tên Casino, tiệm bán quân trang Quế Anh và kế bên là tiệm Phúc chuyên làm con dấu, thêu cờ và huy hiệu. Nếu quẹo phải sẽ gặp Đền Thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo.

Đoạn đường Trần Quang Khải từ đây ra đến đường Đinh Tiên Hoàng tuy không dài lắm, nhưng có rất nhiều cửa hiệu buôn bán. Phía bên phải, ta thấy có Pharmacy Duyệt, rồi đến bảo sanh viện Chung Nam Quế. Nơi đây các bà bầu khu Đakao và Gia Dịnh thường đến để khai hoa nở nhụy. Nhà kế bên là nhà của bà thầy bói mâp, chuyên môn coi bói bài, tiếp đó có hai tiệm bán phụ  tùng và sửa xe Honda, rồi cà phê Ngọc Dung số 77 Trần Quang Khải, của hai chị em tên Ngọc và tên Dung. Đi thêm một chút nửa sẽ  gặp Đình Nam Chơn. 9 Tan Dinh 4Trước đình có thờ hình ông Cọp. Bên trái cổng vào trong sân đình có cây Đa to, có lẽ đã trên trăm uổi. Thêm vài bước nửa cũng có một Phật đường nhỏ, thuộc Giáo Hội Phật Đường Nam Tông. Được gọi tên la Minh Sư Đạo Quang Nam Phật Đường.

Kế bên là tiệm vàng Bảo Thành, cũng nổi tiếng về Bánh Trung Thu, giò lụa, giò thủ và bánh mứt. Trước 1975, bà Bảo Thành là chủ hầu các bải giử hai bánh lớn nhất Sàigòn như : Trường Đại học Luật khoa ở đường Duy Tân, Nha Xổ số Kiến Thiết ở đại lộ Thống Nhất, rạp hát Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo, và dọc theo hai bên đường Lê Lợi… Cách một căn là tiệm cơm Tàu có tên Dân Thiên, với các món mì xào dòn và cơm chiên Dương Châu tuyệt vời.

Tiếp tục phía bên trái. Đầu tiên là chi cuôc cảnh sát Tân Định. Kế bên là đình Công Thành Ban, chuyên trình diễn hát bộ. Trước  đình cũng có thờ một ông cọp, kế bên là một ngỏ  hẻm, đi ra được đường Trần Khắc Chân. Sau đó sẽ đến một dảy phố, có tiệm quay Ronéo Lửa Hồng, nơi  đây quay ronéo và photocopy bài vở cho các học trò và thầy cô giáo. Ngoài ra cũng bán nhạc quay roneo sẳn, giá rất bình dân.

Cách đó vài căn là một tiệm hòm Tô Bia. Có tiệm may Của, rồi đến nhà bà con với ông chủ rạp hát Văn Hoa. Nổi tiếng ở đoạn này là tiệm cầm đồ bình dân có tên là Kim Ngân. Bà chủ lúc nào cũng trang điểm lộng lẫy như các cô đào cải lương Thanh Nga hay Bạch Tuyết sắp lên sân khấu trình diễn. Nơi đây lúc nào cũng đông khách vì tiệm cho cầm và chuộc đồ với giá tương đối dễ thở và thủ tục thì đơn giản hơn so các nơi khác.

Cách khoảng mười căn nhà, bên trái có một con hẻm lớn, nổi tiếng nhất vùng Tân  Định –  Đa Kao. Đó là hẻm xóm Vạn Chài. Đây là địa điểm quy tụ anh hùng hào kiệt tứ xứ. Mỗi lần có hành quân cảnh sát để bắt thanh niên trốn quân dịch thì xe cộ, súng ống rầm rộ, ca nô, thuyền nhỏ chạy dài dọc theo sông cầu Bông, đèn pin chiếu pha sáng cả một vùng. Cuối cùng kết quả chẳng  đi đến đâu, vì thanh niên trốn quân dịch  đã nhảy xuống sông, lặn qua bên phía Gia Định, hoặc trốn trong các con hẻm sâu, tối tăm, chằng chịt. Lực lượng kiểm soát cũng không muốn vào chỗ này, vì không an toàn cho lắm. Đặc biệt, trong hẻm có một trường trung tiểu học tư thục mang tên Văn Hiến do Thầy Phan Ngô làm Hiệu Trưởng. Thầy cũng từng ra ứng cử và đắc cử Nghị viên thành phố Sài gòn.9 Tan Dinh 5

Ra khỏi hẻm, quẹo trái là ngay rạp hát Văn Hoa. Rạp hát này đã từng một thời là một rạp hát sang trọng của Saigon vì có trang bị máy lạnh, màn ảnh rộng và giá vé vào cửa cũng tương đối bình dân. Rạp Văn Hoa chiếu  đủ các loại phim. Những lúc chiếu phim mới và hấp dẫn, bà con sắp hàng rồng rắn, kéo dài tới ngỏ xóm Vạn Chài. Khán giả nào không muốn sắp hàng, không muốn chen lấn  đổ mồ hôi, để  bị rách quần, rách áo hoặc bị rạch bóp, thì có thể mua chợ đen, đôi khi phải trả gấp đôi.

Cũng nên nói thêm ở đây. Cạnh bên rạp hát Văn Hoa là một quán cà phê cũng đã đi vào lịch sử của cà phê Saigon. Đó là cà phê Văn Hoa. Quán được trang bị dàn âm thanh tối tân, nhạc ngoại quốc hấp dẫn luôn luôn mới nhất, chỗ ngồi thanh lịch, vị trí thuận lợi và do hai chị em ruột là bà con với ông bà chủ rạp Văn Hoa đứng bán. Cô chị có tên TBD và cô em có tên TBH. Hai chị em đều là nữ sinh trường trung học Huỳnh Thị Ngà.

Lúc nào đi học, cả hai cô đều mặc đồ đầm rất xinh xắn. Trông giống búp bê không tình yêu. Nghe đâu cũng có khối anh đến uống cà phê thường xuyên mỗi ngày, trong số đó có anh là ca sĩ một ban kích động nhạc nổi tiếng về bài hát Sunday Morning. Ngày nào anh ta cũng đến quán ngồi đồng, vừa thuởng thức cà phê, vừa trồng cây si cô em TBH. Gia đình Cô TBD hiện ở Montréal, còn gia dình cô TBH từ Montréal chuyển về Pleasanton(California.) vì phu quân cô có công việc làm thích hợp ở đây.

Đoạn đường còn lại, phải nhắc đến một quán cơm xã hội, chuyên phục vụ cho giới bà con lao động, xe ba gác, xe xích lô, công tư chức và học sinh, sinh viên nghèo. Giá rất bình dân, chỉ duy nhất năm đồng. Thức ăn gồm ba món, thay đổi mỗi ngày. Cơm ăn thoải mái, ăn cho đến khi nào no thì thôi. Ngoài ra, còn được tặng thêm một trái chuối tráng miệng và ly trà thơm, nóng bốc khói. Sau đó phải kể thêm hai tiệm bán xi măng, gạch, cát và  đá cha truyền con nối là Tấn Phát và Tâm Long.9 Tan Dinh 6 Nay chỉ còn tiệm Tâm Long tiếp tục, địa chỉ số 8 Trần Quang Khải, có lẽ cửa hàng đã hơn nửa thế  kỹ.

Một chút nửa thì bỏ sót tiệm may áo dài tương đối nổi tiếng là Phương Luân và hiệu ảnh Ngọc Chương ở  kế bên. Hết đường Trần Quang Khải thì gặp đường Đinh Tiên Hoàng. Quẹo trái sẽ  găp một quán bán thịt gà, thịt vịt và thịt heo quay. Cạnh đó là một tiệm chuyên sửa xe vespa và Lambretta. Nhìn sang bên kia  đường là tiệm may áo dài Thanh Châu. Tiệm mang tên người con gái lớn nhất. Tiệm may Thanh Châu rất nồi tiếng, chuyên may áo dài cho các ca sĩ và áo cưới cô dâu. Hiện nay tiệm may Thanh  Châu vẫn còn và có rất nhiều khách  đến may mỗi ngày. Kế bên là tiệm bán và đóng giầy Đông Hưng.

Bên kia đường Trần Quang Khải là đường Nguyễn Huy Tự. Phía tay phải có chợ Đa Kao. Trước khi tới chợ Đa Kao, sẽ gặp một gánh chè chỉ bán đậu đen. Bà bán chè, người miền bắc di cư. Bà chỉ bán vào buổi chiều. Chè đậu đen bà nấu, hạt rất dẻo, hương vị ngọt đậm đà. Thú vị nhất là ngồi chồm hỗm ăn chè nóng dưới cơn mưa lất phất của Sài Gòn, vì không có ghế cho khách. Một con đường chạy ngang chợ Đa Kao là đường Trương Hán Siêu. Bên trong có đền thờ nhà cách mạng Tây Hồ Phan Chu Trinh và quán bánh cuốn tráng hơi, mang tên Tây Hồ.

Bà chủ bánh cuốn có tên là bà Cà. Bà khởi nghiệp năm 1960, bằng một cái quán xập xệ, một ít bàn ghế thấp lè tè và mấy tấm bạt cũ để che mưa. Bên phải có Tín Nghĩa Ngân Hàng. Khi chiều đến, có quán cháo lòng, mà bà chủ rất khó tánh. Bà luôn luôn  ưu tiên bán trước cho nam gìới, còn nữ gìới thì bà cho  đợi mút chỉ cà tha. Tranh NT Tan DinhCô hay bà nào không chờ được thì đi kiếm chỗ khác. Nếu thắc mắc, khiếu nại thì bà sẽ từ chối, không bán.

Đường Nguyễn Huy Tự  rất ngắn, khoảng chừng ba mươi thước. Chấm dứt khi đụng đường Nguyễn Văn Giai. Chạy thẳng là Viện Nhu Đạo Quang Trung của Thượng Toạ Thích Tâm Giác. Nguyên Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo. Đối diện với Viện Nhu Đạo Quang Trung là một ngôi chùa lâu đời của người Hoa, mang tên chùa Ngọc Hoàng. Đặc biệt, trong chùa có một cái hồ lớn và sâu. Nhà chùa thả rất nhiều rùa, có những con sống đã vài chục năm trở lên.

Đường Nguyễn Huy Tự, quẹo trái là đường Bùi Hữu Nghĩa. Có một cây cầu sắt cũ. Nếu quẹo  phải sẽ  găp đường Nguyễn Văn Giai. Đi hết đường Nguyễn Văn Giai sẽ gặp đường Đinh Tiên Hoàng, nhìn sang phía bên kia đường là đường Huỳnh Khương Ninh. Bên trái là rạp hát Asam, nay đã xây thành chung cư và tiệm thuốc tây Lịch Cường.

Pharmacy mang tên của Dược Sĩ Tống Lịch Cường. Đầu đường Huỳnh Khương Ninh, có xe bánh mì Bảy Quan với bánh mì thịt dăm bông và ba tê rất độc đáo. 9 Tan Dinh 7Trên con đường này còn có trường trung học Huỳnh Khương Ninh. Đi hết đường Huỳnh Khương Ninh sẽ gặp đường Phan Liêm. Đường chạy dài, dọc theo bên hông Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi. Trên đường Đinh Tiên Hoàng giữa khoảng đường Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản có hai nhà hàng Pháp nổi tiếng là Chez Albert và La Cigale. Ngoài ra cũng phải kể thêm hai quán cà phê đã đi vào gia phà cà phê Saigon trước năm 1975. Quán thứ nhất là cà phê Hân mà tất cả mọi thứ đếu làm bằng inox từ phin, muỗng, tách đựng đưòng, đựng sữa và quán thứ hai là cà phê Duyên Anh. Quán mang tên nhà văn Duyên Anh, nhưng hoàn toàn không dính dáng đến nhà văn này.

Cô bé ngồi tính tiền tên Q. có nụ cười xinh xinh, đôi mắt tròn, đen láy và tóc dài thắt bím rất dễ thương. Cô làm cho bao nhiêu đấng anh hùng mê mệt. Cô cũng còn là đề tài cho các chàng thi sĩ tài tử đến vừa thưởng thức cà phê, vừa làm thơ sầu mộng.

Khu Đa Kao có thể kể thêm những con đường tên vẫn như cũ là: đường Nguyễn Bỉnh Khiêm với hai trường trung học công lập Trưng Vương, Võ Trường Toàn và hồ bơi Nguyễn Bĩnh Khiêm, đường Nguyễn Thành Ý, đường Phan Kế Bính có H9-tan-dinh-7ội Văn Hoá Bình Dân do ông Huỳnh Văn Lang Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái làm Chủ Tịch, đường Mạc Đĩnh Chi với Billards Trường Cang, nhà hàng Trường Cang, Hội Việt Mỹ và Ty Cảnh sát Quận 1, đường Trần Cao Vân, Phan Tôn, Phan Ngữ, đường Phùng Khắc Khoan với tư gia Đại Sứ Hoa Kỳ. Đường này cũng là một con đường đẹp, có nhiều lá me bay củaSaigon.

Cuối cùng trở về khu Tân Định. Xin chỉ ghi ra những con đường không bị đổi tên là: Nguyễn Văn Mai nối hai đầu đường Hai Bà Trưng và đường Huỳnh Tịnh Của. Một đường nữa là Đinh Công Tráng, với món bánh xèo nổi tiếng, trường (Tân Thịnh, Les Lauries, Văn Minh) và tiệm chụp hình Duy Hy. Ngay góc Hai Bà Trưng và  Đinh Công Tráng là tiệm thuốc Kính Tiên.

Phía đối diện là trường Thiên Phước, nhà thờ Tân Định và cách nhà thờ Tân Định khoảng hơn mười thước là cà phê Thu Hương danh tiếng một thời. Ngoài ra, cũng xin kể thêm đường Pasteur. Nơi đây có nhiều tiệm phở, có quán cà phê Hồng và có viện Pasteur, chiếm một chu vi rất rộng, có bốn con đường bao quanh, với những cây cổ thụ to  đến nổi năm, sáu người ôm vẫn không xuể.

HNg Huynh V. Yen 3Ngay ngã ba Nguyễn Đình Chiểu và Pasteur, có một cái mả đá rất lớn được xây bằng đá ong đã bị giải tỏa, nhìn đối diện là trường ngõ hẻm vô trường Anh Văn Khải Minh. Xin phép được dừng ở đây. Hy vọng các bạn đã tìm lại được một chút hương xưa của ngày tháng cũ năm nào..

Một lần nửa Tân Định & Đa Kao mãi mãi trong tiềm thức của chúng ta. (theo Trần Đình Phuớc)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Logo thu thuat

ĐI TÌM MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

Logo nhan vat 1

Ng Hien Le 2MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

NẰM LẶNG LẼ TẠI LẤP VÒ

– Trần Thị Trung Thu

–  Mộ Nguyễn Hiến Lê hả ? Chị không biết. Chị chưa nghe cái tên này bao giờ.

Chị Dương vừa nói vừa lắc cái đầu nhỏ nhắn làm đuôi tóc vẫy vùng sau lưng. Giọng nói nhẹ nhàng của cô gái miền Tây không chút giấu giếm và đùa giỡn. Nhìn sâu vào mắt chị, tôi biết chị nói thật.

Có lẽ nào, tôi tự nhủ trong lòng. Ông Nguyễn Hiến Lê mà chị ấy không biết sao. Tôi cứ nghĩ một vị học giả lẫy lừng như ông chí ít ai từng cắp sách đến trường đều biết. Huống hồ, chị là một nhân viên kế toán kiêm luôn chân giữ thư viện huyện mà lại lạ lẫm với cái tên quen thuộc ấy sao. Kỳ lạ! Ngửa mặt nhìn tấm bảng hình chữ nhật treo vững vàng trên bậu cửa, tôi nhẩm lại dòng chữ “Phòng Văn hóa Thông tin huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp”. Không lẽ nào.

Khi đọc xong cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười”, tôi nổi hứng muốn đi tìm mộ tác giả để thắp một nén nhang biết ơn. Nhớ có lần đọc trong một cuốn sách nói rằng mộ ông nằm ở Lai Vung, tôi phóng xe Honda đến đó. Tôi nghĩ, với một người có nhiều đóng góp cho nền văn hóa như ông, chắc sẽ có một khu mộ đàng hoàng mà chỉ cần hỏi nhỏ người dân ở đó là biết. Cho nên, ngay cả khi chị Dương nói một câu rất chân thật nhưng phũ phàng, tôi cũng không suy suyển Ng Hien Le 1lòng tin.

Tôi tự an ủi, chắc chị nghe không rõ tiếng tôi, cũng có thể là chị chưa kịp nhớ ra. Tôi cẩn thận ghi tên ông ngay ngắn vào một tờ giấy rồi đưa chị đọc. Chị đọc đi đọc lại một cách chậm rãi như thể đầu óc đang làm việc hết công suất để sàng lọc từng milimet trí nhớ hòng tìm ra cái tên Nguyễn Hiến Lê. Cuối cùng, chị trả lại tôi mảnh giấy với nụ cười e lệ :

–  Chị không biết thật rồi. Chắc anh Tú, trưởng phòng Văn hóa Thông tin biết. Để chị dẫn em vô gặp anh ấy nhé.

Tôi lẽo đẽo theo chị trong lòng khấp khởi mừng. Nếu quả thật người tôi đang đi tìm có ở Lai Vung và nổi tiếng như thế thì trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện biết là cái chắc. Anh Tú có phòng làm việc riêng, trên bàn chiếc máy tính nối mạng. Sau khi nghe nguyện vọng của tôi, anh nhún vai nói giọng rề rà nhưng chắc nịch.

–  Anh chưa nghe tên ông ấy bao giờ. Chắc em lầm với ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc rồi.

Tôi nhủ thầm, người miền Tây thích đùa và biết cách đùa khéo quá. Chắc anh ấy thử mình thôi chứ với chức vụ anh ấy mà không biết ông Nguyễn Hiến Lê thì còn ra thể thống gì nữa. Tôi cố nở một nụ cười hỏi lại anh bằng giọng nhẹ tênh:

–  Anh không biết ông ấy thật à ?

–  Thật mà. Ông ấy là ai vậy em ? Anh hỏi lại tôi hết sức bình tĩnh như đang chờ được cung cấp thông tin về một con người xa lạ. Nhìn chiếc máy tính, tôi đề nghị:

–  Anh cho em mượn máy tính chút nhé ? Anh đồng ý.

Tôi gõ tên ông vào Google, cả một núi thông tin về ông xổ ra nhưng không có một chi tiết nào đả động đến chuyện mộ ông hiện ở đâu. Anh trưởng phòng đứng cạnh tôi nheo mắt chăm chú đọc. Cuối cùng anh à lên một tiếng:

Ng Hien Le 4–  Ông này cũng nổi tiếng dữ hen.

Thấy anh có vẻ say sưa, tôi bỏ ra ngoài hiên ngồi mong nguôi ngoai cơn thất vọng đang dâng lên trong lòng. Có vẻ như ông trời cũng biết tôi buồn, nên đang nắng ngon lành, tự dưng đổ mưa xối xả. Cơn mưa giữa trưa đuổi bắt nhau trên những tấm tôn lúp xúp, xám màu. Mưa níu chân tôi lại nơi góc hiên thư viện. Ngồi xuống chiếc ghế đá lạnh lẽo, tôi tự hỏi mình còn cách nào không, còn mối quan hệ nào tôi chưa chạm tới để tìm ra mộ ông không. Tôi có cảm tưởng mình đang phiêu lưu trong khu rừng rậm rạp để tìm kiếm một linh hồn bí ẩn trên sách vở. Giây phút linh hồn mỏng manh kia vút lên trời cao khiến tôi thấy lòng hồi hộp một cách lạ kỳ. Tôi chỉ mới hỏi han hai người, quá ít để đi tới một kết luận. Hẳn phải còn một khe hở nào đó mà tôi chưa tìm ra.

Chợt nhớ bà cô dạy văn hồi cấp 3. Quê của cô ở Lai Vung thế nào cô cũng có chút thông tin về mộ ông Nguyễn Hiến Lê nếu nó thật sự ngự trị tại đây. Cô là người học cao hiểu rộng chắc sẽ giải đáp được thắc mắc cho tôi. Không chần chừ đến một giây, tôi hăng hái bấm số điện thoại của cô. Tiếng bên kia đầu dây đánh thức những dây thần kinh trong người tôi đến mức phấn khích như người chết đuối vớ được chiếc phao. Nhưng đôi khi, phao không đưa ta đến bờ được. Cô biết ông nhưng không biết mộ ông nằm ở đâu. Cô hứa sẽ gọi điện hỏi thăm bà con ở Lai Vung xem thử có ai biết không, và dặn tôi chờ.

Còn ai có thể trả lời câu hỏi của tôi đây ? Nhà giáo không biết liệu nhà văn có hơn không ? Nghĩ thế tôi không ngần ngại bấm số của một anh nhà văn. Tôi tin rằng giới văn nghệ sĩ rất rành mấy chuyện bên lề này. Anh bạn tôi là người hay giang hồ vặt, lại thêm dân miền Tây, chắc sẽ có những thông tin hay ho. Ng Hien Le 5Nhưng câu hỏi của tôi thuộc loại khó nuốt, anh biết rất rõ ông Nguyễn Hiến Lê nhưng cái vụ mồ mả thì anh bí. Anh nói sẽ gọi những bạn văn của anh để hỏi xem có ai biết không. Lại một lời hứa.

Đã hỏi hai “nhà” rồi, tôi hăng hái hỏi nốt nhà báo cho đủ bộ tam. Nhà báo đi còn ác liệt hơn nhà văn và giao thiệp rộng, sao lại không hỏi thử nhỉ ? Đã mất công đi xuống tận đây thì lẽ nào lại đi về tay không ? Tôi tìm số anh nhà báo quê miền Tây. Sau hồi chuông thứ nhất, anh bắt máy liền. Vừa nghe câu hỏi của tôi xong, anh đáp lại bằng một tràng cười sặc sụa. Có vẻ như chuyện tôi đang làm buồn cười lắm. Khi không lại đi tìm mộ một người không phải họ hàng thân thích, chưa một lần gặp mặt, chỉ biết qua những trang sách. Thật điên rồ ! Cuối cùng, anh cũng nín được cười để trả lời tôi một cách rõ ràng và mạch lạc rằng không biết.

Ngoài kia mưa vẫn rơi, gió vẫn thổi, và tôi ngồi đây, lục tìm trong danh bạ số điện thoại của một người quen ở Đồng Tháp, bất chợt bàn phím ngừng ở số tổng đài 19001080. Tại sao lại không gọi nhỉ ? Tổng đài là nơi giải đáp mọi thắc mắc từ quan trọng đến tầm phào mà. Hơn nữa, nơi ấy đâu chỉ có một cái đầu. Tôi bấm số tổng đài. Tiếng tút tút dài đằng đẵng kết thúc bằng giọng nhẹ nhàng của cô nhân viên. Nhưng nghe yêu cầu của tôi xong, giọng cô có vẻ khác. Tôi nghĩ rằng cô đã phải nhịn cười. ng-hien-le-8Cô nói tôi chờ máy để cô tra cứu thông tin. Một phút. Ba phút. Năm phút trôi qua. Đến phút thứ sáu, cô nói rằng tổng đài của cô chưa cập nhật thông tin này và mong khách hàng thông cảm. Tôi có thể thông cảm và hiểu cho yêu cầu kỳ quặc này, nhưng sẽ thật là có lỗi với người đã khuất khi ông mất đến nay là tròn 25 năm. 25 năm mà chưa cập nhật thì bao giờ mới cập nhật đây?

Chị Dương thấy tôi cầu cứu hết mọi nơi mà không kết quả gì cũng ái ngại giùm tôi.

– Em tính đi đâu bây giờ ?

– Em cũng không biết nữa. Tôi nghĩ đến đoạn đường về.

– Em có muốn về nhà chị ăn cơm không ?

Có người nhắc, tự dưng cái bụng tôi đâm ra dở chứng. Tôi biết người miền Tây rất hiếu khách nhưng không ngờ hôm nay lại được mục kích sự hào sảng ấy. Cớ gì lại từ chối lòng tốt của một người như chị nhỉ?

– Em không làm phiền chị chứ?

– Phiền gì đâu. Về cho biết nhà. Sau này có xuống Lai Vung thì ghé nhà chị chơi.

Trời đã tạnh. Cơn mưa ban trưa như gột rửa cái nóng mùa hè, để lại những vũng nước loang loáng trên đường. Chị chạy xe đi trước, tôi rà rà theo sau. Mái tóc chị bay bay trong gió làm tôi nhẹ lòng. Nếu chuyến đi này không tìm được mộ ông Lê thì ít nhất, tôi cũng có thêm được một người chị dễ thương. Tóm lại là không lỗ.

Từ phòng Văn hóa Thông tin đi chừng 2 km nữa là tới nhà chị. Ngôi nhà lá nằm im ắng bên đường quốc lộ. Cả nhà đang xem ti vi nên không ai chú ý đến tôi. Mọi người chỉ lao xao về tôi khi nghe tôi hỏi mộ ông ng-hien-le-7Nguyễn Hiến Lê. Ba má chị là người sống gần hết một đời ở đây cũng không biết mộ ông ở đâu. Thấy vậy, tôi không hỏi thêm ai nữa. Tôi còn nhớ lời tựa của ông Nguyễn Hiến Lê mở đầu cho cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục có đoạn như sau : “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân gian không ? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi chép những bút tích cùng dật sự về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư khố làm tài liệu cho đời sau.

Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà lại có lợi cho văn hóa biết bao. Có như vậy các người cầm bút mới có tài liệu để soạn sách, còn như bây giờ thì một nhà văn Việt viết tiểu sử Tản Đà còn khó hơn viết tiểu sử của Molier, của Shakespeare, của Tolstoi. Thực là ngược đời nhưng rất dễ hiểu. Vì tra cứu ở đâu bây giờ để viết về đời sống của Tản Đà ?” Thật không ngờ, điều ông luôn canh cánh trong lòng đến khi mất lại vận vào chính đời ông.

Tôi đi tìm nơi an nghỉ của ông chỉ vì lòng kính trọng. Theo tôi, ông là một trí thức thứ thiệt lúc nào cũng trăn trở vun vén cho văn hóa nước nhà. Ông đã góp vào nền văn hóa Việt Nam một số lượng tác phẩm đồ sộ gấp bốn lần thời gian ông làm việc. Nhưng quan trọng hơn, đó là nhân cách sống của ông: giản dị và tự trọng. Một con người như thế rất đáng để tôi đi tìm và thắp một nén nhang chứ.

Có điều, tôi vô duyên, không tìm được mộ ông dù biết là ông chỉ nằm đâu đó quanh đây. Tôi biết ông qua một người thầy đáng kính. Đúng rồi, người thầy của tôi. Sao tôi không nghĩ ra nhỉ ? Tôi cuống quýt gọi điện, thầy cười nói đi mà không rủ, ra nông nỗi này ráng chịu. Thì thầy cũng chưa tới mà, xem như chuyến này em đi dò đường trước, lần sau dẫn thầy đi mới ngon lành chứ. Thầy cười ha hả bảo được, rồi nhắn cho tôi địa chỉ mộ ông.

Tôi hí hửng chạy lại khoe với chị Dương cái tin : “Mo Nguyen Hien Le o chua Phuoc An – gan nga tu Cai Buong, Vinh Thanh, Lai Vung”. Cả nhà chị xúm xít quanh tôi khi nghe nói tôi đã tìm ra nơi an nghỉ của ông. Tôi sung sướng đọc to rồi hồ hởi hỏi đường đi đến đó, nhưng lạ thay, tôi đọc xong mà chẳng ai hiểu đó là đâu. Cuối cùng, ba chị Dương đoán một hồi mới rõ đó là ngã tư Cai Bường, thuộc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò chứ không phải Lai Vung. Té ra, cả cuốn sách tôi đọc lẫn tin nhắn của thầy đều sai ng-hien-le-6tên huyện. Ba chị Dương dặn:

–  Từ Lai Vung con đi thêm khoảng 10km nữa dọc theo quốc lộ 80 là sẽ tới ngã tư Cai Bường. Tới đó con hỏi chùa Phước Ân ai cũng biết hết.

Từ biệt ngôi nhà thân thiện, tôi tiếp tục cuộc khám phá. Mưa bắt đầu nặng hạt quất vào mặt, vào mũi, vào áo mưa ràn rạt nhưng tôi không cảm thấy rét buốt. Có điều gì đó cựa quậy trong lòng, vừa đê mê vừa khấp khởi. Tôi thấy con đường trắng xóa trong màn mưa như những bông tuyết bay lững lờ trong không trung. Giọt mưa nào ngọt ngào rớt lên môi mắt tôi. Giọt mưa nào tắm mát tâm hồn tôi. Đường mưa vắng tanh không một bóng người. Tịnh như chốn này chỉ có mình tôi và linh hồn ai đó đang luẩn khuất trong mưa, hí hửng và reo vui.

Vĩnh Thạnh nghèo nàn và ướt át chào đón tôi. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái vào hơn 1km đường đất nữa là tới chùa Phước Ân. Con đường len lỏi qua những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh. Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Người thiên cổ về chốn điền viên này nằm, sáng nghe tiếng chuông chùa, chiều nghe tiếng sóng vỗ, làm tôi cũng phát ham.

Chùa Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm lẫn thân thiện. Ngôi chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Tôi dắt xe chầm chậm qua sân chùa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Đang khi tôi không biết hỏi ai thì có một bà cụ đi ra. Bà mặc áo nâu sòng, mái tóc đã hoa râm. Tay bà cầm cỗ tràng hạtTr Blogger 1 đang lẩm bẩm tụng kinh. Nghe tôi hỏi mộ ông, bà nói:

– Ông Lê viết sách chứ gì?

– Vâng ạ.

Nhìn tay chân tôi tím tái, bà lặng lẽ mời vào phòng khách. Trong gian phòng ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có bà con thân thích gì với ông ấy không ? Sao lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió như thế này ? Làm thế nào mà biết ông nằm ở đây ? Tôi ngồi hầu chuyện bà cụ một hồi đủ để giải thích cho bà hiểu tôi chẳng là gì của ông cả và đi tìm mộ ông chỉ để thắp một nén nhang vì lòng mộ mến thôi.

Nghe xong bà cười, rồi bà kể tôi nghe chuyện cách đây khoảng một tháng, cũng có cậu sinh viên đến viếng mộ ông ấy. Cậu ta còn mua trái cây, đèn nhang cho ông ấy nữa. Bà chưa đọc sách ông nên hỏi ông ấy viết sách hay lắm sao mà mất lâu thế vẫn còn có người nhớ đến.

Tôi trả lời ông ấy không những viết hay mà còn rất hữu ích nữa. Nghe thế, bà dẫn tôi vào chánh điện, nơi khung ảnh ông Nguyễn Hiến Lê được treo bên cạnh người vợ thứ hai của ông, bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi ông mất, bà Liệp xuất giá đi tu và trước khi bà mất, bà nói con cháu hãy đem ông bà về đây an nghỉ. Phía sau lớp kính mờ ảo, nụ cười ông vẫn tươi rói và đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần đời.

–  Đi theo bà, bà dẫn cháu ra mộ ông ấy.

Bên trái chùa có một khoảng đất rộng dành cho những người đã qua đời an nghỉ. Ngôi mộ ông Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong số khoảng 20 ngôi mộ khác. Không có gì đặc biệt cho thấy đó là ngôi mộ của một con người lỗi lạc. Nó nhỏ nhắn và giản dị như chính cuộc đời ông. Cạnh mộ, hoa đổ nhang tàn.

Tôi cắm vào lư hương nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay. Cay cay khóe mắt. (theo Trần Thị Trung Thu)

Ng Hien Le 3Những năm cuối đời

Năm 1980 ông Nguyễn Hiến Lê về lại Long Xuyên. Cùng năm ông bắt đầu viết Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, đến tháng 9 năm 1980 thì hoàn thành. Đồng thời ông tách những đoạn nói về văn nghiệp ra riêng, sửa chữa, bổ sung và biên tập lại thành cuốn sách Đời viết văn của tôi. Tác phẩm này được sửa chữa xong vào năm 1981, sau đó sửa chữa thêm và hoàn chỉnh vào năm 1983.

Ông lâm bệnh và mất lúc 8 giờ 50 phút ngày 22 tháng 12 năm 1984 tại Bệnh viện An Bình, Chợ Lớn, hưởng thọ 73 tuổi. Linh cữu của ông được hỏa thiêu vào ngày 24 tháng 12 năm 1984 tại đài thiêu Thủ Đức. Việc hỏa táng và làm tang lễ, ma chay đơn giản là ý nguyện của Nguyễn Hiến Lê lúc sinh thời.

Sau khi hỏa thiêu,di cốt của ông được đem về chôn cất trong khuôn viên nhà bà Nguyễn Thị Liệp (người vợ thứ hai của ông) ở thành phố Long Xuyên. Năm Kỷ Mão (1999), bà Liệp tạ thế và được an táng trong khuôn viên chùa Phước Ân ở Rạch Cai Bường (thuộc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp), thì tro cốt của ông cũng được đặt bên trên phần mộ của bà.

Ðôi nét về cụ Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Ông được biết đến như một nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục.

Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội. Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, sau đó làm việc tại miền ​Nam. Sau thời điểm  tháng Tám năm 1945, ông đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952, ông chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

Nguyễn Hiến Lê đã dành trọn phần đời còn lại của mình để miệt mài viết sách. Ông có khoảng 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn, dịch thuật thuộc HNg Huynh V. Yen 2nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế…

Ông làm việc đều đặn 13 tiếng đồng hồ mỗi ngày, gồm sáu tiếng đọc tài liệu và hơn sáu tiếng để viết. Nhờ áp dụng nghiêm ngặt thời gian biểu này, ông đã hoàn thành một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Nhiều tác phẩm của ông trở thành cuốn sách gối đầu giường của thanh niên trẻ. (TH.C sưu tầm theo Wikipedia)

Logo que huong 1

9 Gai dep 1NHỮNG VÙNG ĐẤT

CÓ NHIỀU CON GÁI ĐẸP

NHẤT VIỆT NAM

Cùng tìm hiểu nguyên nhân lịch sử vì sao nơi đây lại có nhiều phụ nữ đẹp như vậy.

1/. Gái đẹp Tuyên Quang – đằm thắm, thanh thoát : Câu thành ngữ “Chè Thái, gái Tuyên” không biết có từ bao giờ nhưng đến nay đã trở thành câu cửa miệng, ví hương vị tinh tế, thơm ngọt khó quên của chè ở vùng đất Thái Nguyên với nét đằm thắm, thanh thoát của những người con gái đẹp xứ Tuyên.

Nếu như chè Thái Nguyên đã trở thành đặc sản nức tiếng thì vẻ hút hồn của con gái đẹp Tuyên Quang cũng khiến lòng người thổn thức. “Gái đẹp xứ Tuyên” không chỉ cuốn hút ở hình thức bên ngoài mà còn làm say lòng người với vẻ đẹp tâm hồn. Đó là nét dịu dàng, đằm thắm, nết na, sự khéo léo trong cách ăn, ở, đi đứng, nói năng.

Theo một số tài liệu ghi lại, nơi này xưa là thành trì của vua tôi nhà Mạc nên cũng lắm mỹ nhân tụ hội làm thê thiếp. Vương triều sụp đổ, nhiều cung tần ly tán và cưới dân thường, Chan traudần sinh sôi bao thế hệ người con gái đẹp.

Thêm nữa, đây là vùng đất trung du miền núi có sông Lô, hồ Na Hang, núi Bạch Mã, Cham Chu… hội đủ linh khí hiền hòa lẫn hoang dã dữ dội của trời đất khiến con người luôn khỏe đẹp, tươi vui.

2/. Gái Hà thành – vẻ dịu dàng, nền nã, thùy mị : Những người con gái đẹp đất kinh kỳ luôn toát lên vẻ đẹp của sự dịu dàng, nết na, thùy mị, đảm đang. Nét đẹp của thiếu nữ Hà thành xưa không chỉ thể hiện ở gương mặt, dáng người mà còn ở cách ăn mặc, đi đứng, nói năng.

Nét tề chỉnh là đặc trưng của gái đẹp Hà thành, sang mà không loè loẹt, đẹp mà nền nã; dù chỉ mặc áo vải thường cũng vẫn phẳng phiu, gọn ghẽ, kín đáo. Con gái Hà Nội ngày ấy biết cách trang điểm hơn ai hết. Chỉ phớt qua một chút phấn, 9 Gai dep 2phủ một lớp son nhẹ, kín đáo một giọt nước hoa nơi bàn tay, trong chiếc khăn tay, chỉ đủ thoảng nhẹ như một hương nhài thơm xa cũng đủ làm người người say đắm.

Vẻ cổ điển, dịu dàng nhưng không kém phần tinh tế của thiếu nữ Hà thành được kế thừa từ nét đẹp văn hóa của con người Thăng Long – Hà Nội ngàn năm tuổi.

3/. Người con gái đẹp Nha Mân – hậu duệ của cung tần mỹ nữ xưa : Có lẽ câu ca dao “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân” đã lột tả chính xác về miền đất nổi tiếng nhiều giai nhân, mỹ nữ này.

Nha Mân là địa danh thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Hàng trăm năm nay, Nha Mân nổi danh là vùng đất có nhiều người con gái đẹp. 9 Gai dep 3Theo một số tài liệu ghi lại, vào năm 1985, chúa Nguyễn Ánh sau khi thua quân Tây Sơn trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút đã cùng cả đoàn từ tướng đến quân, tùy tùng, hậu cung theo sông Tiền bỏ trốn. Đến vùng Nha Mân này, bị quân nhà Nguyễn truy đuổi gắt quá nên buộc phải bỏ lại hàng trăm thê thiếp ở đây để chạy.

Tương truyền, những mỹ nhân bị “bỏ rơi” sau đó lấy chồng là người địa phương, trở thành nông dân nhưng con cái do họ sinh ra đều đẹp như tiên đồng ngọc nữ. Chính nhờ dòng máu cung phi mỹ nữ mà xứ Nha Mân mới có nhiều người con gái đẹp như ngày nay.

4/. Miền gái đẹp Huế – đoan trang, dịu dàng, nhỏ nhẹ và có duyên : Nói năng từ tốn, điềm đạm nhưng lại quả quyết, dứt khoát là nét cuốn hút đặc trưng của người con gái đẹp sông Hương.

Giọng nói nhỏ nhẹ và rất duyên của những người con gái đẹp Huế được một nhà thơ mô tả một cách hình tượng : “Em ơi giọng Huế có chi. Mà trong hoa nắng thềm thì cơn 9 Gai dep 4mưa”.

Trong lịch sử, Huế từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong rồi trở thành kinh đô của nước Đại Việt thời Quang Trung – Nguyễn Huệ nên ngoài cung cấm còn có nhiều phủ đệ, quan viên, con vua cháu chúa rất nhiều. Sinh hoạt của tầng lớp quý tộc, trong đó có cách ăn nói của họ đã ảnh hưởng đến lối sống của vùng đất này.

Vua chúa với quyền uy của mình không cần ăn to nói lớn, quan lại cũng không dám nói mạnh trước đức vua và triều thần. Ở kinh đô, tai vách mạch dừng, lời nói phải từ tốn nhỏ nhẹ, tránh lỡ lời mà mang vạ vào thân.

Chốn kinh đô cũng cần sự trang nghiêm, kính cẩn, yên tĩnh cho sinh hoạt của vương triều cũng như cộng đồng xã hội phong kiến nơi đây. Trong suốt gần 350 năm, phong thái ấy đủ để lại dấu ấn trong cách giao tiếp, ứng xử của con người Huế.

5/. Mường So – “Vùng đất mỹ nữ” ở Tây Bắc : Ở thung lũng Mường So (Phong Thổ, Lai Châu) có một truyền thuyết kể rằng Nàng Han, người con gái Thái đẹp nhất trời Tây Bắc, đã ban cho người dân nơi đây một dòng suối quý được “hóa thân” từ bộ váy áo của mình để hàng nghìn năm sau, bất cứ thiếu nữ nào tắm gội, vẫy vùng trên dòng suối ấy đều trở nên xinh đẹp lạ thường. Tương truyền, những cô gái tắm gội trên dòng suối Mường So đều có làn da căng mịn, tràn đầy nhựa sống.

Theo những bậc cao niên trong vùng, Nàng Han được sinh ra trên đất Mường So. Trong tâm linh của khắp xứ Thái, xứ Mường Tây Bắc, 9 Gai dep 5Nàng Han là biểu tượng của người con gái tài giỏi và có vẻ đẹp vẹn toàn như hoa ban buổi sớm.

Vẻ đẹp ấy đã được khắc họa trong câu hát :

“Người đẹp ra suối tắm, cá tìm về xem chân. 

Người đẹp đi lên nương, dâu, lúa tìm về xem tay. 

Người đẹp đi lên rừng, hoa tìm về xem mặt. 

Người đẹp hát trong rừng, chim ngập ngừng lắng nghe. 

Người đẹp bước chân xòe, trai Mường So ngây ngất…”

Không chỉ có nhan sắc rực rỡ, Nàng Han còn có đôi tay khéo léo, đặc biệt là trong việc kéo sợi, thêu thùa, dệt vải. Khi giặc ngoại xâm kéo đến xâm lược Mường So, Nàng Han đã anh dũng đứng lên kêu gọi trai tráng dựng cờ giết giặc. Thắng trận trở về, nàng được nhân dân trong vùng chào đón và suy tôn là “nữ tướng”.

Một đêm sáng trăng, Nàng Han trút bỏ bộ áo cóm, một trang phục của thiếu nữ Thái, để bay về trời. Bộ váy áo đó đã biến thành dòng suối Mường So mà bất cứ người con gái nào tắm ở đó thì đều có làn da đẹp tựa ban trắng trên rừng, môi đỏ như quả bồ quân. Nhờ dòng suối quý, Mường So trở thành “miền mỹ nữ” từ đó.

6/. Thiếu nữ Thái có vẻ đẹp vẹn toàn như hoa ban buổi sớm : Cũng từ ngày ấy, các vị vua, chúa đất ở khắp miền Tây Bắc đều cho người đi tìm những cô gái đẹp ở Mường So mang về dinh thự để đưa vào đội múa xòe.

Các cô được chọn phải có làn da thật trắng, mái tóc đen nhánh, đôi chân cao thẳng, eo thắt, ngực nở và nhất9 Gai dep 6 là gương mặt phải đậm đà, xinh tươi như đóa hoa rừng mới nở.

Ngay cả đến những năm đầu thế kỷ 20, Mường So vẫn vang danh là vùng đất nhiều mỹ nữ. Không chỉ những chúa đất vùng sơn cước mà quan ta, quan Tây miền xuôi cũng luôn khao khát được một lần diện kiến nét đẹp đến mê hồn của những cô gái với điệu xòe Thái quay cuồng làm nghiêng ngả núi rừng.

7/. Miền gái đẹp xứ Thanh : Người dân tộc Thái ở Mường Lè (huyện vùng cao Quan Hóa, Thanh Hóa) khai thiên, lập địa ở mảnh đất mạch rồng cuộn, nước dồi dào, sản vật núi rừng nhiều vô kể, nên đời sống đồng bào nơi đây luôn ấm no, hạnh phúc.

Mảnh đất lành này là nơi sinh ra những cô gái Thái đẹp hút hồn, hấp dẫn lạ thường. Cái đẹp của cô gái Thái Mường Lè đến từ đôi mắt biết cười, nước da trắng như trứng gà bóc, giọng nói nhẹ nhàng như mật rót vào tai

Lý giải về vẻ mê hồn, đằm thắm rất đặc trưng của cô gái đẹp Thái xứ Thanh, nhiều già làng, trưởng bản kể rằng tổ tiên lập làng bản của họ từng là thổ ty, lang đạo nên lấy vợ đều lựa chọn những cô gái đẹp lộng lẫy ở khắp vùng.

Có tiếng là vùng đất sản sinh ra nhiều cô gái đẹp nên thời điểm vùng bị giặc ngoại xâm tạm chiếm, thỉnh thoảng bọn giặc lại vào vùng bắt những cô gái đẹp đi. Thế nên, cứ mỗi lần nghe tin giặc vào bản bắt người, 9 Gai dep 7-8dân trong bản lại dẫn con, em của mình chốn vào trong rừng cho đến khi chúng rời khỏi bản.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng con gái Thái nổi tiếng đẹp người, khéo và ngoan hiền, bởi ngay từ nhỏ đã được cha mẹ chỉ dạy rất cẩn thận từng việc làm, ăn uống, đi đứng, nói năng, đối nhân xử thế hiền dịu, không để mất lòng người.

Các cô gái đẹp người Thái ở Mường Lè sống gần gũi với thiên nhiên. Con gái Thái 15-17 tuổi phải thạo việc xe tơ, dệt thổ cẩm, biết làm cái chăn, cái gối, cái đệm, khăn piêu trước khi về nhà chồng.

Họ cũng giữ được vẻ đẹp mặn mà ngay cả khi về làm vợ, làm mẹ bởi những tập tục như hơ người vào lửa sau khi sinh, uống nước sôi đun trong ống nứa….

Lại có phân tích cho rằng vùng đất này có điều kiện tự nhiên tốt lành, độ dốc nhiều con suối và sông Mã cao; nước ở đây được hấp thụ bởi luồng khí trong lành từ những cánh rừng, ngọn núi; ăn uống và hít thở không khí trong lành đã tạo nên dáng vẻ cân đối và làn da sáng mịn, săn chắc của những cô gái đẹp dân tộc Thái ở Mường Lè

8/. “Thôn cung nữ” toàn gái đẹp ở Quảng Ninh : Nghĩ đến con gái Quảng Ninh, nhiều người nghĩ đến nước da đen đúa và bụi bặm, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Nếu bạn đến với Quảng Ninh, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy con gái vùng than da lại trắng như tuyết.

Đặc biệt, ở vùng đất phật Yên Tử (Uông Bí, Quảng Ninh) có thôn Năm Mẫu được mệnh danh là “thôn cung nữ”, nổi tiếng nhiều người con gái đẹp.

Ao yemTruyền thuyết kể rằng, Thượng hoàng Trần Nhân Tông cách đây trên 700 năm, một ngày mùa đông đã từ bỏ kinh thành Thăng Long đi về hướng đông để tìm núi tu luyện, đến vùng đất Yên Tử thì dừng chân. Lúc đi có 300 cung tần mỹ nữ theo hầu.

Khi đến Yên Tử, do không được vua cho ở cùng nơi đất Phật, nên các cung tần mỹ nữ lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Đường về kinh thành thì xa xôi vạn dặm, quân lính của tân vương phong tỏa khắp nơi, ở cũng khó mà đi cũng khó. Để giữ trọn đạo, 300 cung tần mỹ nữ đã trầm mình xuống con suối giữa đại ngàn Yên Tử.

Đúng thời điểm đó có 5 chàng trai người Dao bản địa đi kiếm củi về ngang qua đã nhảy xuống và cứu được 5 cô gái đẹp. Để tri ân, những cô gái này xin được làm vợ để “nâng khăn sửa túi” cho chàng trai đã cứu mình. Nhờ dòng máu của những giai nhân đến từ kinh thành, con gái của vùng đất này được thừa hưởng vẻ đẹp sắc nước hương trời cũng như phong cách lịch lãm.

Khi năm bà cung nữ qua đời, dân làng Thượng Yên Công đã lập đền thờ, gọi là đền Năm Mẫu. Ngôi đền này hiện vẫn nằm ở Thượng Yên Công và khu vực được tương truyền có 5 cung tần làm dâu không biết tự lúc nào có tên là thôn Năm Mẫu.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

ĐƯỜNG ĐẾN VINH QUANG

Logo nhan vat

9 Hotmail 1HOT MAIL :

CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN

VINH QUANG

Anh chàng da đen thui, người Ấn Độ mang tên khó đọc Sabeer Bhatia leo lên chiếc Boeing 747 của hãng Air India, bay ngót 22 tiếng đồng hồ, đáp xuống phi trường quốc tế Tom Bradley tại Los Angeles, California. Tưởng mọi người tung hô khi anh đáp xuống xứ lạ này nhưng tại sao thiên hạ vô tình với mình quá vậy ?

Hành lý của anh nhẹ hều trong đó có vài bộ áo quần cho hợp thời trang Tây Phương. Chớ tại Calcutta, anh dùng nhất bộ nhất phẩm là xà rông quanh năm màu trắng mà vẫn thấy văn minh như thường. Còn tại đây, cà vạt và bộ veste nhạt màu làm anh đổ mồ hôi, mặc dầu người Mỹ nói rằng vừa vào mùa Thu.

Sabeer khát nước, nhưng anh thấy góc tường có một thằng Mỹ đang đá ình ình vào cái máy bán nước ngọt rồi nó chưởi là “đồ ăn cướp tiền của tao”. Máy bán nước ngọt Coca Cola có 3 cái ở góc tường, một cái đang bị đá ình ình, còn cái kia tắt điện, cái kia có điện sáng chói… nhưng anh Sabeer Bhatia đâu dám thọt tờ 100 đô của anh mà mua nước, lỡ máy nó giựt luôn… thì biết ai mà thưa kiện ?

9 Hotmail 2Trong túi anh chỉ có 250 dollar và tờ giấy nhập học “không phải trả tiền học phí” mà cha mẹ anh gọi là “scholarship” của trường U.C.L.A cho anh học 2 năm mà thôi. Ngày mà anh đáp xuống phi trường Los Angeles, mọi chuyện bỡ ngỡ hết. Ngày đó là ngày 23 tháng 9 năm 1989. Anh vừa đúng 19 tuổi 3 tuần.

Sabeer vào học được 2 năm thì xong rồi, nhưng để lấy bằng Bachelor Science thì cần thêm 2 năm mới được. Môn mới ra đời là “Computer Science” rất ít người học, thầy giáo thì dạy đàng trời, học trò hiểu đàng nẻo. Anh đành phải làm giấy tờ vay tiền học phí mà học cho xong chớ bằng kỹ sư computer nửa vời 2 năm thì ai dám mướn ? Phải 4 năm mới được chớ ? Nhưng vì anh không phải là cư dân thường trú tại California, anh mang quốc tịch Cộng hòa Ấn Độ mà. Như vậy tiền học phí phải đắt gấp 2 lần cho sinh viên ngoại quốc như anh.

Anh thầm nghĩ như vậy tụi Mỹ nó cho mình tay mặt rồi lấy lại tay trái rồi. Như vậy nợ nần rồi ai trả đây ? Họ nói ra trường rồi trả không sao. Nhưng ra trường mình đâu có muốn ở lại đây ? Mình được người cậu họ tại Bangalore (Ấn Độ) hứa dẫn mình vào một hãng vi tính nổi tiếng của tụi IBM ngay trung tâm thủ đô New Dehli rồi mà, nhưng nếu tính tiền nợ nần này và lương tại Ấn Độ thì mình trả đến 25 năm mới xong với điều kiện đừng lấy vợ. Lấy vợ có con thì không trả nổi đâu. Sao mà càng lúc càng thấy nguy quá vậy ?

Rồi bốn năm sau, Sabeer Bhatia tốt nghiệp hạng… không rớt, nghĩa là hạng C là quá may mắn rồi. Anh học được, nhưng vì tụi UCLA bắt mình lấy môn thể thao nhiệm ý, mình không biết chọn môn nào vì mình thích đá banh từ nhỏ tới lớn là nghề của chàng, còn đây tụi Mỹ nó không đá banh mà nó ôm banh chạy, rồi bị chặn giò giật banh lại rồi thổi còi tu huýt đếm lại. Mà ôm banh giành banh, rồi chạy, rồi bị chặn giò, rồi thổi còi tu huýt tụ lại, rồi ôm banh giành chạy… như vậy đâu phải thể thao ? 9 Hotmail 3Họ cho mình vào môn thể thao nhiệm ý gọi là “football” như vậy là thua rồi.

Môn này bị thua, nó làm anh hao điểm ra trường hết sức. Cộng tới trừ lui anh được ra trường kỹ sư hạng C cũng là may lắm rồi. Nếu rớt thì bị rớt về môn football này, đem về tổ quốc thì không vinh quang tí nào đâu.

Sau cùng mọi chuyện cũng xong. Ra trường. Sabeer và anh bạn Alsavador Bohita người Mễ được hãng Apple mướn vào với lương vô cùng khiêm nhượng không dám khoe ai hết.

Thung lũng Silicon anh được nghe rất nhiều. Nơi này biến nhiều người lọ lem thành hoàng hậu trong vòng một đêm, nhưng lọ lem là cô bé gái còn mình là anh chàng da đen thui nói tiếng Anh líu lo theo giọng Ấn Độ, nhiều người bạn nói tại “mày ăn càng quá cay, nên cái lưỡi của mày nóng quá, nói lẹ tụi tao nghe không kịp”.

Sabeer và Alsavador làm chung một hãng, cùng nhau chia tiền phòng 2 bedroom tại Silicon Valley. Tiền nhà ở đây họ tính cho toàn tụi tỉ phú mướn mà tụi mình ăn uống rất khiêm tốn. Né hầu hết những tiệm Seafood Restaurant của dân Chinese tại San Francisco, còn thằng bạn mình Alsavador thì khoái ra mặt món hamburger, nó nói món này ăn bổ lắm, ai cũng thích hết. Còn mình không ăn được món này, vì mình “trọng” con bò mà. Đành ăn fried chicken mệt nghỉ luôn.

Hàng ngày tan sở thì thằng Mễ nói luôn miệng là sẽ làm sao mà thoát khỏi kiếp nghèo này mới được. Chẳng lẽ mướn apartment trọn đời ? Còn làm kỹ sư cho một hãng lớn vô cùng như Apple nhiều sao bắc đẩu quá. Thằng sếp Chief Engineer của mình nó là thằng Việt Nam. Tr Cuoi 11Nó thường khoe là ngày xưa nó từng đánh giày tại Saigon, rồi nó chạy đại lên tàu chơi, nhưng không dè tàu không cho nó xuống mà sang Indonesia luôn. Nó phải làm lại từ đầu…

Mình nghĩ cái thằng Việt Nam này sao mà xạo quá “nó có cái gì đâu mà làm lại từ đầu ?” Nhưng mình phải nể thôi, trong sở nó có nhiều bằng sáng chế mà người ta gọi là “patent”. Nó treo nhiều bằng patent như vậy trên vách tường văn phòng của nó. Nó có thư ký tóc vàng làm việc cho nó, còn mình thì làm chung phòng với thằng bạn và hai thằng Mỹ tóc đỏ khác. Nhà của thằng Việt Nam này đáng nể thật. Nó có lần tổ chức party mời cả Sếp Chúa hãng Apple đến dự sinh nhật con thứ năm của nó, chỉ còn thiếu sư tổ Apple là Steve Jobs là đủ bộ.

Thằng Việt Nam này nói cái nhà nó mua rất rẻ nhờ thằng bán nhà Realtor cũng là thằng “boat people” quen trên tàu… chớ người lạ thì trên 800 cũng không được. Mình biếu quà cho nó mà nó đâu có vui vì trùng quà rồi. Cái áo da mình thèm lắm, nhưng mua cái áo da đẹp cho nó thì thua hẳn cái áo da của các người bạn trong sở khác nên nó đâu có vui, vì đã trùng quà mà quà mình thì rẻ tiền mà !

Xứ mình có ai mặc áo da đâu mà có kinh nghiệm toàn là ở trần quấn xà rông quanh năm suốt tháng trong nhà. Khi ra ngoài đường là mặc đại một cái áo vest dưới là xà rông, thiên hạ cũng nể rồi. Đó là tại India. Còn về nhà, Santa Clara, Cailfornia, về tổ ấm tạm thời thì thằng Mễ Alsavador luôn luôn nói “mình phải giàu mới được” nghe riết 9 Hotmail 9hết muốn vô sở luôn.

Một hôm, mình nhớ khoảng tháng 12 năm 1995 thì thằng Mễ gọi khẩn trong máy điện thoại là cần gặp mình gấp trong vòng 15 phút tại McDonald đường Euclid gần sở mới được. Bỏ sở, nói dối với Chief Engineer là mình “nhức đầu quá”, nó OK. nhưng mình biết nó đâu có tin, nó còn nói nheo nhéo “good luck”. Bộ nó tưởng mình bỏ sở này nhảy sang sở khác sao ? Kệ nó, nó nghĩ gì thì nghĩ mình phải theo thằng bạn luôn miệng nói “mình phải làm giàu mới được”.

Bạn mình Alsavador có từng nói sẽ làm một hộp thư dành cho tụi web surfer, nghĩa là tụi chơi Internet mới được. Nhiều đêm nó bật đèn sáng trong phòng, ngồi ngồi viết viết, hút thuốc lá liên miên, đi tới đi lui trong phòng, lẩm nhẩm như thằng điên làm mình không ngủ được, bỏ nó ra mướn riêng thì đâu có tiền. Còn ở chung thì cứ nghe nó nói mình phải làm giàu mới được, rồi nửa đêm thức dậy, đi tới đi lui… như vậy lá số Tử vi của mình đâu có may mắn đâu ? Lo kiếm cơm chưa xong còn mong gì làm triệu phú nữa.

Gặp tại quán McDonald, nhìn nó ăn hamburger mà thèm, còn mình ăn french fried uống coca ừng ực. Nó nói rồi mình bàn, rồi phố lên đèn. Lúc đó tháng 12, trời mau tối lắm, ngoài đường thiên hạ đang nhộn nhịp mua quà Noel Christmas tấp nập. Không biết Noel năm nay mua quà loại gì cho thằng Chief Engineer Việt Nam này cho nó hài 9 Hotmail 7lòng?

Sabeer và Alsavador bàn kế hoạch cho e-mail tương lai. Anh nói với Alsavador cần phải điều chỉnh vài phần command trong software này mới được. Và Sabeer kết luận mình cần phải có ít nhất là “300 ngàn đồng” mới được. Sabeer và Alsavador sáng hôm sau phone vào Sở Apple Corp cho Chief Engineer là “vẫn còn bị bệnh” thì được thằng Việt Nam này cười khì khì “good luck”… Sao thằng Việt Nam này nó khôn quá vậy ?

Hai người lái xe đi khắp nơi, từ Silicon Valley, đến Santa Clara, đến North San Jose, South San Jose, đến tận San Francisco… gõ cửa hơn 35 hãng chuyên về phần mềm nhưng chỉ được một đống business card của họ đem về nhà mà thôi. Họ nói món e-mail này có nhiều người làm rồi, đâu cần nữa. Tụi Netscape làm e-mail này từ lâu rồi còn Yahoo ! cho không, AOL (American On Line) cũng vậy.

Sau cùng hai người này gặp một tay chịu chơi tại vùng Vịnh San Francisco Bay, hãng này nhỏ không lớn, chuyên về phần mềm. Chủ hãng là anh chàng Mỹ tóc vàng trẻ tuổi, anh tên Steve Jurvetson. Anh này nghe hai người gần nửa buổi nhưng chưa chịu tâm phục khẩu phục ý kiến của mình. Sau cùng anh chịu cho mượn tiền 300 ngàn USD, nhưng phải chia cho hãng anh 30% thì mới OK. Hai người năn nỉ quá trời, thiếu điều muốn rớt nước mắt thì Steve Juvetson mới OK với 15%. Chủ công ty bấm chuông gọi cô thư ký tóc vàng người New Jersey đem chút bánh sandwich ham mà ăn chơi, rồi 9 Hotmail 4luôn tiện ký giao kèo luôn tại chỗ cho gọn.

Cầm check hết sức bự ghi là “Pay to order “Mr. Sabeer Bhatia and Alsavador Bohita” amount “$300,000.00. Three hundred thousand dollars only” dưới là ký tên đọc không được đem về nhà.

Rồi sáng mai hai người làm bộ buồn rầu vào trình diện thằng Chief Engineer người Việt Nam là hai người muốn nghỉ sở một thời gian. Chief Engineer cười khì khì “Đó tui nói đâu có sai. Vậy tui mong hai người good luck nghen. Nhưng tôi hỏi thiệt, tụi nó mướn hai anh bao nhiêu tiền salary năm vậy ? Hãng nào vậy ? Sao mà hãng đó hay quá vậy ?”

Thây kệ thằng Chief Engineer nói móc gì thì nói miễn là Apple Corp trả đúng tiền lương đừng làm lộn là được rồi.

Hai người mướn một văn phòng rất nhỏ tại Freemont, cách sở độ 1 giờ 25 phút lái xe. Mướn tại Santa Clara đâu nổi giá tiền rent, đành chọn một nơi không nổi danh mà tìm danh vậy.

Hai người có gọi 15 nhân viên trong hãng Apple vào làm chung với hãng mới ra lò của hai người với điều kiện là được chia phần hùn bù lại sở không trả lương. Chịu không ? Kết quả có 4 người trong hãng Apple đồng ý vác cuốc đi tìm vàng tương lai lời ăn lỗ chịu là nếu bù trớt lỗ sặt máu là vác bản mặt vào Đại Công ty đứng xếp hàng mệt nghỉ mà xin tiền Đại Công Ty này. Đó là Sở Welfare (phúc lợi xã hội).

Đến tháng thứ 6 thì hai ông chủ bự hết sạch tiền, đành làm liều mà thôi. Nhóm anh có một công ty phần mềm tên là Dough Castile Company, tại Santa Clara, California muốn ứng cho tụi anh một số tiền nho nhỏ để được phần hùn lơn lớn. Hai anh không chịu đành phải làm liều là nhờ người làm giấy tờ vay một ngân hàng xa lạ là Shanghai Bank tại San Francisco với số tiền lời quá cao, muốn lời rẻ thì không ngân hàng nào cho mượn hết, họ đòi phải có giấy tờ 3 năm business thành công mới được. Tren net 9Sao mà tụi ngân hàng ngu quá vậy ? Ba năm business thành công thì mượn tiền làm cóc khô gì cho mệt ? Sau cùng Shanghai Bank của dân Chinese đồng ý cho mượn 100 ngàn lây lắt chờ sản phẩm Trí Tuệ chào đời trong tháng tới.

Hai người chọn một tên nghe nóng hổi cho sản phẩm trí tuệ của mình, vừa thổi vừa ăn là “Hotmail”.

Ngày lịch sử đã điểm, mang thai lâu ngày cách mấy rồi cũng phải sanh đẻ thôi. Ngày lịch sử đó là ngày “July 4th, 1996”. Sở dĩ hai người chọn ngày này vì ngày này là Lễ Độc lập ra đời của United States of America.

Phần mềm e-mail của hãng anh cái gọi là “Hotmail” là một bước cách mạng. Ai ai sử dụng Internet cũng đều biết e-mail là gì. Nhưng muốn được e-mail (dạng POP truyền thống) thì phải đăng ký vào một nhà cung cấp dịch vụ Internet (Internet Provider Services gọi tắt là IPS) thì họ mới cho một account mà có e-mail, nghĩa là cần máy vi tính và dính liền với tụi IPS trọn đời, nếu không trả tiền hay nghỉ chơi với tụi IPS thì… thơ e-mail sẽ bị vứt thùng rác.

Cái khó cho e-mail truyền thống là phải về sở hay về tận nhà mới đọc được e-mail, còn đi chơi hay vacation thì NO Mail. Còn nếu về đến sở hay nhà mở máy vi tính đọc e-mail rất lâu và toàn loại e-mail đọc xong muốn chưởi thề. Toàn là người ta mời mua hàng, mua máy sấy tóc, mua máy giặt hay mua tờ báo lạ lùng.

Cái bất tiện của e-mail là ai muốn vào xả rác thì cứ tự tiện vì chủ hốt dùm rồi không hốt thì kẹt máy vi tính ráng chịu vì nó overload mà tụi IPS chỉ cho hộp thư e-mail rất nhỏ, vài ba cái quảng cáo như máy giặt, máy cắt cỏ… là chật cứng thùng thư rồi. Muốn hộp thư e-mail to rộng rãi thì mua account loại Gold hay Silver đi, thay vì mỗi tháng 20 đồng thì trả 100 đồng đi, sẽ được hộp hư lớn gấp 5 lần hộp thư cũ.

Vi tinh dongĐó là cái bất tiện của e-mail truyền thống. Còn Hotmail của nhóm anh thì không bị kẹt IPS, đi vacation hay nằm nhà thương mà có computer thì có thể đọc thư của mình dễ dàng. Lại có phần báo động cho chủ biết là thư nào cần đọc chậm rãi, thư nào không cần đọc chỉ cần delete vào thùng rác hay để software delete của phần Hotmail vào thẳng Trash bin cũng được. Hotmai của nhóm anh có thể chạy cho chương trình của tụi Netscape, tụi AOL, tụi Window Explorer cũng được mà không sợ hãi gì.

Sau đó nhóm của anh cho đăng trên báo Computer Readers Digest là Hotmail cho không tính tiền, hộp thư e-mail này rộng rãi và chận được tụi quảng cáo junkmail như quảng cáo máy giặt, máy cắt cỏ v.v…. Có ai bao giờ mở máy email mà mua máy cắt cỏ hay máy sấy tóc không ?

Tụi anh ban đầu có 100 khách hàng, sau đó lên 200… rồi lên đến 1.000 người. Anh gửi thư Hotmail hỏi thân chủ là họ biết nhờ học lóm bạn bè vả lại free không tốn tiền lại đọc thư chỗ nào cũng được không cần vào sở gặp sếp đâu. Hãng nho nhỏ 6 người cộng lại được công ty Doug gọi ngày đêm, nhưng hai người từ chối khéo. Lúc này hãng anh đã có 6 triệu khách hàng đăng ký rồi (lặp lại, sáu triệu nhân khẩu).

Bạn anh là Alsavador lỡ dại gọi chơi chơi vào tụi Microsoft Corp thì được họ hân hoan trả lời. Họ cho 8 luật sư danh tiếng, tổng cộng là 16 người, gồm đàn bà chủ Departments, gồm đàn ông chủ Department Development Software của Microsoft từ Seattle, Washington State xuống công ty hai anh mà thăm viếng. Chẳng lẽ họ đòi thăm hai người tại McDonald ? Thế là thiếu ghế. Họ tới thật đông, áo quần màu đenEmail A tuyền, xe limousine đen bóng.

Tổng cộng 6 xe limousine cho 16 người đi gặp một hãng mới gồm chủ thợ tổng cộng 6 người. Một màn chìa business card ra, say thank you rồi mời ngồi. Họ chăm chú nghe Sabeer trình bày sơ đồ rồi bảng báo cáo. Họ không nói một lời. Chỉ lắng nghe, có người đang thu băng lại về cho chủ bự hãng Microsoft nghe lại, có máy quay phim của đoàn Microsoft nữa. Sau cùng, Head Team of Transaction là Kirl Thompson, môt người đứng tuổi, đẹp lão đứng lên cho biết ý định của hãng Microsoft “Chúng tôi hoàn toàn ngưỡng mộ những chuyện quý ông đã làm. Đây là một sự thành công vĩ đại cho công chúng ta. Thưa quý ông ! Hãng chúng tôi đồng ý và xin mua đứt bản quyền sản phẩm Hotmail của công ty quý ông với giá là một trăm năm chục triệu dollar bằng tiền cash.”

Nghe cú đánh đầu tiên thì 4 nhân viên trong hãng của hai người, những người chịu hy sinh bỏ sở Apple Corp mà vào ăn mì gói uống nước lạnh không lương vào hãng Sabeer, đều ồ khoái trá, hân hoan ra mặt.

Nhưng Sabeer Bhatia vẫn kềm xúc động giữ nguyên giá. Nguyên giá mà không một ai hiểu được ý tưởng của Sabeer ra con số bao nhiêu. Đoàn thương lượng Kirl Thompson lịch sự cúi chào 6 người rồi cùng toàn ban lên xe limousin ra phi trường San Jose ngay ngày hôm đó.

Qua ngày mai một điện thoại gọi từ Seattle, Cali đến cũng giọng của Kirl xin tăng giá lên: “Xin quý công ty chấp thuận đề nghị của chúng tôi, Microsoft Corp với số tiền cash là hai trăm năm chục triệu dollars”. Nghĩa là trong vòng 24 giờ, công ty của hai người có thể “Make money” lên đến 100 triệu USD. Nhưng Sabeer nhã nhặn từ chối.

Tuần sau họ được điện tín đánh vào Hotmail của họ tại Freemont lúc 9 giờ đêm, cũng chữ ký của Kirl Thompson là : “Ông chủ xin hẹn hai người tại nhà riêng của ông chủ, Redmont, Washingon State lúc sáng thứ hai.9 Hotmail 5 Chúng tôi sẽ đón hai người tại văn phòng của hai người tại Freemont, Cali lúc 8:30 AM.”

Hai người đúng hẹn, ăn mặc cũng theo kiểu của họ là veston màu đen. Họ được limousine đón tại sở của họ đúng 8:30 AM. sáng thứ hai. Phi cơ rời phi trường San Jose đúng 9 giờ sáng Cali và đến Redmont trong vòng 35 phút sau đó. Nhà của Bill Gates quả là kỳ quan thiên hạ về cơ ngơi. Nhìn xuống mặt hồ nước màu xanh blue, sau lưng là cánh rừng thông và rừng phong maple lá vàng rực. Xa nữa là núi mờ xa…

Hai người được ăn sáng chung với Bill Gates, trong phần ăn uống điểm tâm, tuyệt đối Bill Gates không nói điều gì đến software Hotmail mà Bill Gates chỉ nói chuyện các anh thích môn football của đội nào ? Liệu năm nay đội Texas có thể thắng đội Illinois không ? Dĩ nhiên hai anh chàng này, một anh thích ăn Taco một anh thích ăn Gà Chiên da giòn đành ấp úng bọc đuôi.

Sau phần điểm tâm, thì Bill Gates lịch sự mời hai người lên văn phòng làm việc. Văn phòng Bill Gates, người giàu nhất hành tinh Trái đất này rất đẹp chỉ thua văn phòng của Tổng thống Hoa Kỳ Goerge Bush tại Washingon DC mà thôi, mặc dầu hai người này chưa từng thấy văn phòng của Bush ra sao, họ chỉ thấy bằng hình mà thôi.

Văn phòng Bill Gates có sẵn Kirl Thompson và một cô thư ký tóc vàng, cả hai người đó đều complet màu đen. Thấy 3 người từ phòng khách lên phòng làm việc của Bill Gates, thì hai người này đứng lên chào hỏi bắt tay nồng hậu. Họ gặp nhau lần trước tại văn phòng của Sabeer với ghế ngồi mượn thêm từ lối xóm.

9 Hotmail 8Bill Gates hỏi chuyện với những chiến lược rất thông thường như họ đã từng nghe những công ty tại Silicon Valley nói chuyện hỏi chuyện họ, nghĩa là tầm thường mà thôi. Như vậy Sabeer và Alsavador bớt lo trong lòng. Nghĩa là Bill Gates không phải là siêu nhân như hai người thầm nghĩ, vẫn là một người Mỹ tóc vàng, cân thị bình thường như hàng triệu người Mỹ bình thường vậy. Bill Gates chưa phải là siêu nhân mà cái gì cũng biết hết. Bill Gates không phải là “Superman” như báo chí đồn đại. Nghĩa là người giàu nhất Trái đất về phần mềm cũng chưa thuộc bài của chúng tôi.

Bill Gates sau cùng cười thật tươi : “Công ty chúng tôi ngỏ lời chào mừng quý công ty của hai anh về sự thành công vượt bực mà Microsoft chúng tôi phải ghen tị. Chúng tôi, và tôi Bill Gates xin đồng ý mua lại phần mềm Hotmail của công ty hai anh với giá “ba trăm năm chục triệu bằng tiền mặt”. Anh chàng Alsavador lúc đó mặt tái nhợt, còn anh chàng Sabeer vì da đen thui Ấn Độ nên không biết anh tái hay không tái đây.

Sabeer cười lịch sự : “Chúng tôi xin Ngài đừng bớt giá, vì đây là sản phẩm vô địch thiên hạ”. Bill Gates vẫn tươi cười, xin hẹn gặp quý vị trong lần tới.

Trên đường bay về nhà Freemont, Cailifornia, anh chàng Alsavador còn bị bá thở vì con số tiền Bill Gates đưa ra là “350 triệu USD”, một con số quá lớn nhất đời của anh. Alsavador không còn lảm nhảm câu nói quen thuộc của mình là “Tụi mình phải làm giàu mới được”. Nhưng số tiền ba trăm hai chục triệu dollar do Bill Gates, chủ hãng Microsoft, chính miệng đề nghị có thư ký ghi chép. Thế mà “thằng Cà ry Ấn Độ” này nó say NO một cái rụp. Tren NetNếu Bill Gates không mua và thằng Ấn Độ không bán thì mình cưu mang 6 triệu khách hàng Hotmail đến bao giờ ?

Còn anh chàng gốc Calcutta, Ấn Độ tên là Sabeer Bhatia đêm về là ác mộng kinh hoàng. Tại sao lúc đó mình lại thích kênh-xì-po với Bill Gates làm chi vậy ? Nó không mua thì mình làm sao sống đây ? Sở Welfare thất nghiệp đâu có cho tiền mỗi tháng 450 USD cho dân ngoại quốc như mình đây ? Còn trở lại hãng cũ Apple để gặp thằng Chief Engineer gốc Việt thì never… never… never… còn 4 thằng tình nguyện bỏ sở, bỏ benefit, bỏ profit sharing mà theo mình đến chân trời huy hoàng xán lạn mà Hotmail nếu Bill Gate không mua thì bán cho ai đây ?

Tuần lễ trôi qua, nhóm 6 người vào sở tại Freemont thấy không vui, ăn cơm hết ngon rồi. Không ai nói với ai điều gì, và cũng không ai dám nhờ ai điều gì. Mạnh ai nấy đi đổ rác, mạnh ai nấy lau bàn ghế của mình… rồi ngồi ngáp. Lúc này có ai tỉnh trí mà chế tạo sản phẩm trí tuệ hay hơn Hotmail nữa không ? Sáu người này như là sáu robot không trí não, không hồn vậy. Xem tivi thì thấy Dow Jon hay Nasdaq đang xuống thê thảm, như vậy Hotmail sản phẩm trí tuệ phần mềm mà Bill Gates nói vô cùng kính phục mà đem về nấu cháo heo cho rồi.

Mai này không biết xếp hàng sở Welfare điền đơn xin trợ cấp thất nghiệp ra sao đây ? Mình đâu phải bị chủ đuổi mà mình đuổi chủ mà ? Nghỉ ngang xương vì lý do gia đình làm sao Welfare cho tiền mình được ? Mỗi tháng họ cho tối đa là 450 đồng cho độc thân, và cho đến 6 tháng thì thôi luôn. 9 Hotmail 10Còn ba trăm hai chục triệu đô thì xài làm sao cho hết kiếp này đây ?

Đến trưa thứ Ba, thì giọng nói của Kirl Thompson vẫn tươi cười gọi vào. Lúc đó 6 người đang ngáp vừa xong. Tất cả đều nghe trong telephone khuếch đại intercom là “Thứ Năm ông chủ chúng tôi xin gặp quý vị và đồng ý sự quyết định của quý vị về giá tiền nhượng lại sản phẩm Hotmail cho công ty chúng tôi. Xin quý vị đem theo luật sư chuyên về hợp đồng trong chuyến đi lên Redmont thứ Năm này. Xin quý vị cho chúng tôi biết ngày giờ, chuyến bay số mấy để ra phi trường đón quý vi.” Nói xong Kirl Thompson chúc 6 người một Merry Christmas vui vẻ nhất.

Tất cả đều la chung một tiếng “Trời ơi !” (Oh! My God) rồi tim ai nấy đập hết ga hết cỡ. Thằng thì ngồi ủ rủ trong góc phòng, thằng thì ngồi lỳ trong toilet không chịu ra, thằng thì ra balcon trên lầu mà ngó ánh sáng mặt trời chói lọi trên cây… Như vậy điên hết rồi, mình điên hay là Bill Gates điên đây ?

Thế là hai anh chàng chạy đi tìm luật sư từ trước đến giờ chỉ có thằng Alsavador rành luật sư mà thôi, vì nó bị đụng xe năm ngoái. Xe đụng là một Jaguar đắt tiền, đụng đít mới ăn tiền chiếc xe Toyota Camry đời Bảo Đại chưa lên ngôi của nó, rờ còn muốn rớt cái cản xe bumper huống chi đụng mạnh, mà tay này lái Jaguar lại có mùi rượu nữa. Đền 100% cho nó kể luôn tiền đấm bóp vớ vẩn, lúc đó nó cho mình mượn vài trăm mà Tren Net 2trả tiền student loan còn nhớ không ?

Alsavador đến gặp luật sư chuyên về xe đụng của anh mà xin lên Redmont với anh vào thứ Năm đến. Anh chàng luật sư nghe xong liền từ chối một cái rụp “Chuyện ký giao kèo công tra một hiệp định trị giá trên ba trăm triệu dollar tôi làm hổng được. Nó quá lớn mà. Thôi được để tôi kêu thầy của tôi dùm cho anh nghe ?” Kẹt quá mà Microsoft chỉ cho mình có 48 tiếng thì làm sao mà tìm cho ra luật sự hảo hạng đây ?

Sau cùng Alsavador đành gật đầu vậy bằng không lên tay không với thằng Ấn Độ cũng được, miễn là được ba trăm năm chục triệu là được rồi.

Tối thứ Ba thì thầy của luật sư xe đụng, xin lỗi luật sư chuyên lo vụ xe đụng, đến gõ cửa phòng apartment của hai anh. Thầy của luật sư từ New York bay một mạch đến San Jose mà không kịp thay đồ. Giao kèo Ba trăm năm chục triệu đôla đâu phải giỡn mặt, vả lại mình gặp ngang hàng với Bill Gates xem sao.

Thế là chiều thứ Tư nhóm ba người, luật sư bậc thầy và hai anh chàng Hotmail báo cho văn phòng Bill Gates là thứ Năm, chuyến máy bay Lear Cessna loại nhỏ 8 chỗ ngồi sẽ đến phi trường Seattle lúc 9 giờ sáng.

Thứ Năm 10 giờ sáng ngày 23 tháng 12 năm 1997, Microsoft và hai anh chàng Hotmail ký biên bản bán bản quyền với giá 450 triệu dollar tiền cash (xin lập lại Bốn 9 Hotmail 6trăm Năm chục triệu dollars tiền mặt).

Qua thứ Hai thì Microsoft loan báo lên thị trường chứng khoán New York Nasdaq là Internet Explorer của Microsoft có thêm phần miễn phí về dịch vụ e-mail mang tên Hotmail for Internet Explorer users. Giờ mở cửa gõ chuông của New York Stock Echange về phần Nasdaq lúc đó giá trị của Internet Explorer đinh giá là 6 tỉ USD, chiều 2 giờ gõ búa bế mạc thì trị giá stock của Internet Explorer lên đến 12 tỉ USD.

Anh chàng Ấn Độ Sabeer Bhatia và Alsavador đến gõ cửa công ty phần mềm do anh chàng trẻ tuổi chịu chơi là Steve Jurvetson một tấm check với con số “Pay to the order Mr. Steve Jurvetson for Seventy five million dollars only $75,000,000.00 USD”

Trong vòng một năm 2 tháng công ty phần mềm Steve Jurvetson đưa ra 300 ngàn dollar và thu lại 75 triệu USD tương tự mỗi tháng công ty Steve Jurvetson làm ra được gần 6 triệu dollar. Còn anh chàng gốc Mễ hay gốc Peru gì đó, hết còn lảm nhảm câu nghe đáng ghét “mình phải làm giàu mới được”.

HNg Ng Toan NangMột lời từ chối trị giá Ba Trăm Năm Chục Triệu Dollar với Người Giàu Nhất Thế Giới quả đáng vào lịch sử về Mần Ăn Thương Lượng. Đại học Havard, Stanford, và Paris hay London đều có câu chuyện này, nhằm hâm nóng những sinh viên thích nói “mình phải làm giàu mới được.”

Hotmail ngày nay dính liền với Internet Explorer như bóng với hình, thân chủ về e-mail chỉ tăng chớ không giảm, ngày nay Internet Explorer qua mặt Netscape và AOL một cái vù rất xa.

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Logo thu thuat

 

NHỮNG NHẠC SĨ GỐC HUẾ (2/2)

Logo nhan vat

NHỮNG NHẠC SĨ

GỐC HUẾ (2)

(Tiếp theo và hết)

6/- NHẠC SĨ LÊ MỘNG BẢO

Nhạc sĩ Lê Mộng Bảo  sinh năm 1923 tại Huế trong một gia đình nho giáo gốc Minh Hương. Năm 1940 lúc lên 17 tuổi ông đã bắt đầu sống tự lập. Ông ra Bắc làm việc cho tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ông học chữ Hán với cụ Phan Bội Châu, học nhạc với  nhạc sĩ  Đặng Thế Phong và Nguyễn Văn Thương. Năm 1944  ông trở về Huế  và làm việc tại Sở Bưu điện Huế .

Năm 1945 ông thôi việc và mở một tiệm bán sách trên đường Trần Hưng Đạo. Ông xuất bản nhạc phẩm “Quảng đường mai ” của Nguyễn Hữu Ba và từ đó ông đi luôn vào ngành xuất bản âm nhạc. Vì công việc làm ăn nên ông thường hay đi Hà Nội, do đó ông quen biết nhiều nhạc sĩ sống ở miền Bắc như Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Phúc  vv…Trong thời gian này, theo phong trào chống Pháp ông sáng tác bản nhạc đầu tay “Không làm nô lệ”.

Năm 1948 ông cộng tác với nhà xuất bản Tinh Hoa của ông Tăng Duyệt và chính ông đã giúp ông Tăng Duyệt phát triển thành nhà xuất bản nhạc phẩm uy tín nhất VN. Năm 1952  ông Tăng Duyệt cử ông vào Saigon lập chi nhánh nhà xuất bản Tinh Hoa 2  để xuất bản những nhạc phẩm của các nhạc sĩ miền Nam .

Năm 1956 nhà xuất bản Tinh Hoa Huế ngưng hoạt động vì tình hình chính trị thay đổi. Tại Saigon một mình Lê Mộng Bảo khai trương nhà xuất bản lấy tên là Tinh Hoa Miền Nam. Ông có tài kinh doanh nên ngoài việc xuất bản ông còn phân phối nhạc phẩm đến tận các nhà sách và các nhà dù bán nhạc trên các lề đường Saigon. Nhà xuất bản nhạc phẩm của ông là nhà xuất bản VN đầu tiên có tên trong danh mục các nhà xuất bản nhạc quốc tế “Worldwide music trade directory ” .

Ông có nhiều nhạc phẩm sáng tác như  “Đổi thay ”, ”Mùa ve sầu”, “Phận nghèo”, “Thân phận”, “Bọt bèo”, “Xa anh rồi”, “Không hiểu tại sao”, “Sao lừa dối em”.  Ông có sáng tác chung với  các nhạc sĩ khác như Văn Phụng, Mạnh Phát, Tô Kiều Ngân , phạm Mạnh Cương … Ông cũng có bài tân cổ giao duyên  “Thân phận” soạn chung với soạn giả cải lương Quế Chi. Bản này được thu thanh vào dĩa qua giọng ca của Minh Vương và Thanh Kim Huệ.

Ông cùng các nhạc sĩ Lê Thương, Nguyễn Hữu Ba, Phạm Duy, Xuân Phát … thành lập Hội nhạc sĩ VN .

Năm 1973 ông cùng với nhac sĩ Văn Giảng, các ca sĩ Mộc Lan, Kim Tước  phụ trách lớp nhạc lý  tại Viện khoa học giáo dục. Ông cùng với nhạc sĩ Song Ngọc phụ trách chương trình “Hoa tình thương” trên  Đài truyền hình VN và đi lưu diễn tại các tiền đồn xa xôi. Ông cũng là chuyên viên báo chí thời Hoàng Đức Nhã làm Bộ trưởng Thông tin và Dân vận. Ông phụ trách tờ báo “Lẽ sống” ở Saigon.

Sau 1975 ông đi học tập cải tạo đến 1981. Năm 1993 ông sang Hoa Kỳ theo diện HO và đang định cư tại Cali.

7/- NHẠC SĨ  LÊ MỘNG NGUYÊN  

Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sinh năm 1930 tại Huế trong một gia đình trí thức và yêu văn học, nghệ thuật.

Ông có người anh tên Lê Mộng Hoàng là một ca sĩ có giọng ca Ténor nổi tiếng trong thập niên 40 của Đài phát thanh Huế. Nhưng ông anh thích làm diễn viên điện ảnh hơn làm ca sĩ. Sau khi du học ở Pháp về ngành điện ảnh, ông trở về VN đạo diễn phim  “Bụi đời” và Lê Mộng Nguyên viết nhạc cho phim.

Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sáng tác nhạc hồi còn rất trẻ  nhưng mãi đến năm 1948 ông mới cho ra mắt nhạc phẩm “Mừng Khánh Đản” nhân dịp khánh thành chùa Từ Đàm Huế , “Vó ngựa giang hồ” , “Mùa lúa mới”, “Trường ca quân tiến” …

Khi ông 19 tuổi ông yêu tha thiết một cô gái Huế tên M. và chính người đẹp này là nguồn cảm hứng để ông viết bài “Trăng mờ bên suối” (1949). Sáng tác xong, ông gởi ngay cho nhạc sĩ Thu Hồ  lúc ấy đang là một ca sĩ nổi danh của đài phát thanh Pháp Á, mặc dù trước đó hai người chưa hề quen biết nhau. Thu Hồ đã thu thanh bản nhạc này với ban nhạc Trần Văn Lý. Từ Huế nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên nghe giọng hát cũa Thu Hồ trình bày nhạc phẩm của mình với cái radio của người hàng xóm qua làn sóng điện của đài Pháp Á. Từ đó ông tiếp tục gởi thêm những bài khác cho Thu Hồ và hai người trở nên đôi bạn thân cho đến cuối cuộc đời.

Năm 1950  ông sang Pháp du học về ngành luật. Sau khi đỗ tiến sĩ ông dạy tại Đại học Paris về Luật hiến pháp, Khoa học Chính trị  và kinh tế.  Năm 1996  ông về hưu và được bầu vào Hàn Lâm Viện Khoa học hải ngoại Pháp.

Những nhạc phẩm của Lê Mộng Nguyên gồm có :

1948 –  Mừng Khánh Đản, Mùa lúa mới, Vó ngựa giang hồ.

1949 – Trăng mờ bên suối, Một chiều thương nhớ, Trọng Thủy Mỵ Châu, Chiều thu, Mưa Huế.

1950 – Hoàng Hoa Thôn, Nhớ Huế, Bài thơ Huế, Cô gái Huế, Về chơi thôn Vỹ Dạ, Đôi mắt nhung, Mơ Đà Lạt, Ly hương.

1956 – Bên dòng sông Seine, Xuân tha hương, Lá thư cho mẹ, Trời Âu.

1957- Bụi đời, Người đã trở về. 1980 – Xuân về nhớ mãi quê hương. 1988 – Chiều vàng trên chợ Đông Ba.  1991 – Quê tôi. 1992 – Kiếp giang hồ.

8/- NHẠC SĨ  THU HỒ

Nhạc sĩ Thu Hồ tên thật là Hồ Thu sinh ngày 14/10/1919 tại làng Tân Mỹ (gần Thuận An), tỉnh Thừa Thiên. Ông có khiếu về âm nhạc và thơ lúc mới 12 tuổi. Ông là ca sĩ đầu tiên đưa những bài hát VN đầu tiên đến với thính giả, là gạch nối giữa những bài hát Pháp lời Việt do cô Kim Thoa, Thanh Tùng, Tư Chơi khởi xướng và các bài hát hoàn toàn VN. Thời gian theo học tại trường trung học Pellerin, ông ở trọ tại nhà ông bác của nhạc sĩ Trần Văn Lý và được nhạc sĩ truyền dạy cho nhạc lý Tây phương. Ông rất thích hát những bài mà Tino Rossi hay hát. Ông cũng là ca sĩ đầu tiên hát trước công chúng tại Hội Chợ Huế bài “La chanson du gondolier”.

Năm 1943 ông làm trưởng ga xe lửa Dầu Giây. Xa quê, xa gia đình, ông nhớ nhà, rồi nhớ đến hai câu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” khiến ông nhớ đến mẹ và viết nên bài “Quê mẹ”. Tuy là tác phẩm đầu tay nhưng lại là bài hát tiêu biểu trong sự nghiệp âm nhạc của ông.

Năm 1947 ông tham gia vào ban “Thần Kinh nhạc đoàn với ban nhạc của nhạc sĩ Trần Văn Lý và các ca sĩ như Châu Kỳ, Mộc Lan, Minh Diệu, Minh Tần, Kim Nguyên, Mạnh Phát, Thu Thu, Vĩnh Lợi  vv …

Năm 1948 đài Pháp Á mở thêm chương trình tân nhạc VN và mời ông cộng tác. Từ đó tiếng hát cũng như tên tuổi của ông đã vang đi khắp nước. Ngoài đài Pháp Á sau này đổi tên thành Đài phát thanh Saigon ông còn hát cho đài Quân Đội. Thu Hồ không chỉ là ca sĩ mà còn là nhà soạn kịch và diễn viên sân khấu. Ông đã soạn trên một trăm vở kịch và cũng là diễn viên trong các vở kịch như “Hai chàng một áo”, “Thầy lang bất đắc dĩ” vv… Thẫm Thúy Hằng đã mua những kịch bản của ông để diễn trên Đài truyền hình.

Năm 1954 ông đi quân dịch, làm Trưởng ban tuyên truyền lưu động Đệ I Quân khu  đi ủy lạo binh sĩ ở các tiền đồn biên giới. Trong dịp này ông làm bài “Khúc ca Đồng Tháp”.

Năm 1957 mãn hạn quân dịch, ông gia nhập ban văn nghệ  “Vì dân” của Tổng nha Cảnh sát Quốc gia .

Từ 1959 đến 1970  ông là giáo sư âm nhạc các trường trung học ở Saigon như  Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bá Tòng, Thiên Phước, Thánh Thomas… Ông là thành viên của SACEM, hội âm nhạc của Pháp, trụ sở đặt tại Paris. Thu Hồ còn là nhà thơ đưọc nhiều người mến mộ. Ông cho ra mắt tập thơ mang tên “Ánh bình minh” năm 1965 .

Sau năm 1975 ông kẹt lại ở Saigon. Năm 1990 Mỹ Hà con gái lớn của ông và chồng là tài tử điện ảnh Trần Quang bảo lãnh gia đìng ông sang Hoa Kỳ. Ông sống tại Santa Ana với người con thứ là ca sĩ Mỹ Huyền cho đến cuối đời.

Năm 1993 ông và nhà thơ luật sư Ðỗ Đức Hậu được Hội Thi sĩ quốc tế  (International Society Of  Poets) bầu là “Đại sứ thi ca hòa bình” trong hội nghị thi ca họp tại Hoa Thịnh Đốn. Để đánh dấu nhạc phẩm “Quê mẹ” tròn 50 tuổi, một đêm ca nhạc mang tên “Đêm quê mẹ” được tổ chức tại vũ trường  Ritz  tối 14/10/1993 tại Anaheim. Trong dịp này ông cho ra mắt tuyển tập nhạc “Hoa bốn mùa” gồm 22 bản nhạc ưng ý nhất của ông  như “Quê mẹ”, “Tiếng sáo chiều quê”, “Sầu ly biệt”, “Nhớ nhau”, “Tím cả rừng chiều”, “Cô nữ sinh Đồng Khánh”, “Tà áo Trưng Vương”, “Mái tóc em gái Gia Long”, “Trăng huyền diệu” vv…

Một tuần trước khi ông từ giã cõi đời, các bạn bè đã tổ chức một đêm dạ vũ tương trợ dành cho ông tại Vũ trường  Ritz. Theo ý nguyện của ông các bạn trích ra  567 $ góp vào quỹ tượng đài Chiến sĩ tự do. Ông mất ngày 19/05/2000, hưỏng thọ 81 tuổi.

9/- NHẠC SĨ  ĐỖ KIM BẢNG

Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng gốc Quảng Nam, sinh năm 1932 tại Huế. Ông là bạn đồng khoá với nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương từ trường trung học Khải Định cho đến trường Cao đẳng Sư phạm và Đại học Văn khoa Hà Nội. Ông học đàn với nhạc sĩ  Lê Quang Nhạc, học lóm nhạc lý Tây phương với nhạc sĩ  Văn Giảng và học thêm cổ nhạc với nhạc sĩ  Nguyễn Hữu Ba. Những năm học trung học ông tham gia sinh hoạt văn nghệ trong trường và trong Gia đình Phật tử với các bạn như Phạm Mạnh Cương, Hồ Đăng Tín, Hoàng Nguyên, Kiêm Đạt, Diên Nghị, Tạ Ký (thơ), Minh Tuyền (nhiếp ảnh), Lữ Hồ (văn học) …

Năm 1949 ông sáng tác ca khúc  “Mục Kiền Liên” và trình bày trong mùa Vu Lan tại Huế. Năm 1951 ông làm bài  “Mùa thi” được ban hợp ca Thăng Long  dựng thành nhạc cảnh và trình diễn nơi ở trong nước.

Hôm nay mùa thi, bao nhiêu người đi

Xe rộn ràng, lớp ồn ào, niềm vui vấn vương .

Thi ơi là thi, sinh mi làm chi,

“bay” nghẹn ngào, “bám” ồn ào, buồn vui vì mi” .

Sau đó được ban Gió Nam của nghệ sĩ Trần Văn Trạch cùng ban Thăng Long trình diễn “Mùa thi”  tại Hà Nội năm 1954. Ban Thăng Long đã làm bài hát này nổi tiếng và đưa tên tuổi ông đến giới hâm mộ nhạc VN.

Năm 1953 ông ra Hà Nội học tại Đại học Văn khoa và Cao đẳng Sư phạm. Trong thời gian này ông học thêm âm nhạc với nhạc sĩ Hùng Lân. Cuối năm 1954 ông  di cư vào Saigon. Năm 1955 ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư Phạm, được bộ Giáo dục biệt phái sang  bộ Quốc phòng và dạy tại trường Võ bị Quốc Gia  Đà Lạt  từ 1955 đến 1960. Trong thời gian này ông sáng tác bản “Khúc hát ngày mai” được ban Thăng Long trình bày trên đài phát thanh Saigon và đài Quân đội.

Năm 1960 về lại bộ Giáo dục  ông dạy tại trường Trần Lục rồi Nguyễn Du. Trong năm này ông cho ra đời bài “Mưa đêm ngoại ô” và năm 1963 bài “Bước chân chiều Chủ nhật” do Thanh Thúy hát.

Năm 1965 ông nhập ngũ khóa 21 trường Võ bị Thủ Đức. Ra trường với cấp bậc chuẩn úy, ông làm việc dưới quyền của thi sĩ Tô Kiều Ngân, lúc ấy là  đại úy Trưởng phòng và thi sĩ Tô Thùy Yên, trung úy phụ tá Trưởng phòng của Phòng Văn nghệ  Cục Tâm lý chiến. Tại đây ông cùng làm việc với các nhạc sĩ khác như Lam Phương, Duy Khánh, Trầm Tử Thiêng, Song Ngọc, Phạm Minh Cảnh, Anh Việt Thu  vv… Cùng phục vụ trong Cục Tâm lý chiến ông cũng đã gặp và quen biết các nhạc sĩ cùng các văn, nghệ sĩ như  Trần Trịnh, Trần Thiện Thanh, Mai Trung Tỉnh, Tường Linh, Du Tử Lê, Phạm Lê Phương, Tạ Tỵ…. Cũng trong thời gian này ông viết bản trường ca  “Những người đi giữ quê hương  được Ban hợp ca Quân đội trình bày tại rạp Thống Nhất  nhân ngày Quân lực VNCH năm 1969, dưới sự điều khiển của nhạc sĩ Vũ Minh Tuynh và Ngô Mạnh Thu.

Năm 1969 ông được biệt phái về lại bộ Giáo dục và tiếp tục dạy học cho đến tháng  4/1975. Sau đó ông đi học tập cải tạo đến năm 1978. Năm 1980 ông vượt biên rồi được định cư tại Hoa Kỳ. Ông đi học lại nghề cũ và dạy học ở Boston cho đến 1999 về hưu. Trong thời gian ở Mỹ ông phổ nhạc bài thơ “Tháng ba đi hành quân” của Trần Hoài Thư.

Ngoài những nhạc phẩm nêu trên ông còn những sáng tác khác như : Mưa đêm ngoại ô, Sương đêm, Vòng tay giữ trọn ân tình, Vui dựng gia đình, Xin dìu nhau đến tình yêu.

10/- NHẠC SĨ  HOÀNG NGUYÊN

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc sinh ngày  03/01/1932 tại Quảng Trị, nhưng lớn lên và học hành tại Huế. Ông mất ngày  21/08/ 1973 tại Saigon  trong một tai nạn xe cộ  lúc  ông  41  tuổi  là lúc tài năng sáng tác đang lên .

Ông học trung học tại trường Quốc Học Huế, đậu Cử nhân Anh văn tại Đại học Saigon, dạy anh văn và âm nhạc tại Đà Lạt, Vĩnh Long, Saigon. Ông phụ trách ban nhạc đại hòa tấu “Hương thời gian” trên Đài truyền hình VN và chương trình “Tiếng thời gian” trên Đài phát thanh Saigon .

Ông có nhiều kỷ niệm với Đà Lạt và hai nhạc phẩm nói về miền cao nguyên này là “Ai lên xứ hoa đào”, “Bài thơ hoa đào” trở thành tác phẩm tiêu biểu của ông. Hai tác phẩm này hiện nay được nữ ca sĩ Ánh Tuyết trình bày rất thành công, đã làm rung động những tâm hồn yêu nhạc. Nhạc đã hay mà lời lại như thơ.

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi gió len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dặt dìu như tiếng tơ

Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ

Nghe tâm tư mơ ước chuyện Đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa…

Về xứ Huế ông đã để lại cho đất Thần Kinh nhạc phẩm “Tà áo tím” một bài hát trữ tình lãng mạn, êm đềm, thơ mộng và đã được ca sĩ Hà Thanh ru vào lòng người :

Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang

Tôi gặp một tà áo tím nhẹ thấp thoáng trong nắng vương

Màu áo tím sao luyến thương , màu áo tím sao vấn vương

Rồi lòng bâng khuâng theo màu áo ấy , màu áo tím hôm nào

Tình quyến luyến ban đầu, chập chờn tâm tư màu áo thoáng chiêm bao …

Những ca khúc khác của  Hoàng Nguyên gồm có  :  Anh đi mai về, Anh đi về đâu, Bài Tango riêng cho em, Cho người tình lỡ, Đường nào em đi, Đường nào lên Thiên thai, Duyên nước tình trăng, Em chờ anh trở lại, Lá rụng ven sông, Lời dặn dò, Sao em không đến, Thuở ấy yêu nhau .

11/- NHẠC SĨ LÊ CAO PHAN

Nếu không có bài hát “Phật giáo Việt Nam” được dùng làm bài ca chính thức cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất  thì rất ít người VN biết đến nhạc sĩ Lê Cao Phan.

Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc, Nam, Trung  từ đây

Một lòng chúng ta tiến lên vì Đài Sen…

Trước đây ông chỉ sáng tác những ca khúc vui tươi dành cho thiếu nhi, cho học sinh nên thường những ai làm nghề nhà giáo mới biết đến ông. Các bài hát vui của ông dành cho thiếu nhi gồm có : Bài ca tình bạn, Ca mùa học vui, Hai chú gà con, Nhi đồng múa ca, Ra chơi, Tập tầm vông, Tiếng còi đánh thức, Vui đi học.

12/- NHẠC SĨ  PHẠM MẠNH CƯƠNG

Nói đến nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, người yêu nhạc nhớ đến “Thu ca”, một trong  những ca khúc được thu thanh nhiều nhất từ trong nước đến hải ngoại và cũng là nhạc hiệu quen thuộc của những chương trình ca nhạc của ông tại các Đài phát thanh và truyền hình Saigon trước năm 1975.

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sinh quán tại Huế, tỉnh Thừa Thiên. Ông theo học bậc trung học tại trường Khải Định, đỗ Tú tài 2 năm 1953. Sau đó ông ra Hà Nội tiếp tục việc học, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm và Cử nhân Văn khoa  1955.

Từ 1955 đến 1958 ông là giáo sư  tại trường trung học  Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.

Từ 1958 đến 1975 ông là giáo sư môn triết và môn văn tại trường trung học công lập Pétrus Ký và các trường tư thục lớn ở Saigon như Văn Học, Nguyễn Văn Khuê, Bồ Đề, Hưng Đạo, Văn Lang, Lê Bảo Tịnh, Huỳnh Thị Ngà, Thượng Hiền…

Từ 1960 đến 1975 ông vừa dạy học vừa hoạt động âm nhạc. Ông là trưởng ban các chương trình “Hoa thời đại” của Đài Phát thanh Saigon, “Tiếng hát hậu phương”,  “Nghệ sĩ và chiến sĩ ” của Đài Tiếng nói Quân đội, “Chương trình Phạm Mạnh Cương” của Đài truyền hình. Ông còn là giám đốc trung tâm “Tú Quỳnh”, một trung tâm băng nhạc quy mô đầu tiên tại Saigon.

Năm 1980 ông rời Việt Nam và định cư  tại thành phố Montreal, tỉnh Quebec, Canada. Ông tiếp tục hoạt động văn nghệ : thành lập ban nhạc Phạm Mạnh Cương với hai người con là nhạc sĩ Phạm Mạnh Quỳnh và Phạm Lê Diễm Phúc. Đồng thời ông là chủ biên nguyệt san Thẩm Mỹ từ năm 1994 đến nay.

Một số nhạc phẩm nổi tiếng của ông đã xuất bản và thu thanh tại VN trước 1975 :  Thung lũng hồng, Mắt lệ cho người tình, Tóc em chưa úa nắng hè, Thương hoài ngàn năm, Tình yêu đã mất, Giã từ cố đô, Về thăm cố đô  Loài hoa không vỡ, Tháng bảy mưa ngâu, Sầu ly biệt, Nhạc khúc mừng xuân, Thu về trong mắt em…

Tháng 04/2003  nhạc sĩ  Phạm Mạnh Cương đã được trung tâm Thúy Nga mời xuất hiện trên băng Vidéo “Paris By Night 70”, chủ đề “Thu ca” cùng với hai nhạc sĩ Lê Dinh và Trường Sa.

13/- NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sinh ngày 28/02/1939 tại Lạc Giao (cao nguyên miền Trung) trong một gia đình trung lưu gốc Thừa Thiên. Ông lớn lên tại Huế và đỗ Tú tài ban triết học ở trường Chasseloup Laubat Saigon. Ông tự học nhạc, học sáng tác không qua một trường lớp nào cả. Trong thập niên 60 nhạc của ông xuất hiện như một ngôi sao sáng trong vòm trời âm nhạc VN. “Ướt mi” là tác phẩm đầu tay được sáng tác năm 1958. Ông mất ngày 01/04/2001 tại Saigon.

Mỗi bài hát của T.C.Sơn có một nét độc đáo riêng. Ngay cả lời ca trong nhạc T.C.S. cũng có một sắc thái riêng không giống với các nhạc sĩ khác. Lời ca của TCS không sống sượng theo lối tả chân, không văn chương theo lối mòn sáo rổng hay rập khuôn theo những qui ước có sẵn. TCS có lối sử dụng ngôn ngữ một cách khéo léo, mới lạ để diễn tả một thứ tình cả m lang lâng, mơ hồ phải nhờ cảm tính người ta mới hiểu được. Ví dụ TCS nói đến tình yêu đôi lứa mà không dùng đến chữ “yêu” vì đã có bàn tay, mái tóc, đôi mắt … nói hộ cho rồi :

ưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ

Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao

Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ

Đưòng dài hun hút cho mắt them sâu …

(Diễm Xưa)

Lùa nắng cho buồn vào tóc em

Bàn tay xanh xao đón ưu phiền

Tr Cong son 3Ngày xưa sao lá thu không vàng

Và nắng chưa vào trong mắt em …

(Nắng Thủy Tinh)

Mỗi bài ca là một bài thơ. Ngoài chất thơ ra trong nhạc TCS còn mang chút triết lý về thân phận con người , hạnh phúc , khổ đau , lẽ vô thường của kiếp sống :

Bao nhiêu năm làm kiếp con người

Chợt một chiều tóc trắng như vôi

Lá úa trên cao rụng đầy

Cho trăm năm vào chết một ngày …

(Cát Bụi)

Có điều gì gần như niềm tuyệt vọng

Sông bao lần sông đã ra đi

Những ngàn năm trôi đến bây giờ

Sông ra đi hay mới bước về …

(Gần Như Niềm Tuyệt Vọng)

TCS đã từ giã cõi đời, ông đã trở về với  “Cát bụi”, “Một cõi đi về” của kiếp con người vì ông cũng chỉ là một  “Đóa hoa vô thường”. Đường trần ông đã đi qua, “Dấu chân địa đàng” ông để lại là một gia tài âm nhạc gồm có các tuyển tập :

1967 – Ca khúc Trịnh Công Sơn – Tình Khúc Trịnh Công Sơn – Ca khúc da vàng.

1968 – Kinh Việt Nam

1969 – Ca khúc da vàng 2 – Ta phải thấy mặt trời .

1972 – Như cánh vạc bay – Cỏ xót xa đưa – Khói trời mênh mông – Tự tình khúc –  Phụ khúc da vàng.

1973 – Lời đất đá cũ – Nhân danh việt Nam .

1989 – Một cõi đi về.

1991 – Em còn nhớ hay em đã quên – Cho con.

1992 – Lời của dòng sông –  Khói trời mênh mông 2 .

1993 – Bên đời hiu quạnh – Trong nỗi đau tình cờ – Thuở ấy mưa hồng.

1995 – Những bài ca không năm tháng.

SG Lan Huong1999 – Tuyển tập ca khúc Trịnh Công Sơn  1, 2, 3, 4, 5, 6.

Ngoài các nhạc sĩ chào đời ở Huế hoặc lớn lên và học hành tại Huế còn có những nhạc sĩ tuy không sinh ra ở Huế nhưng có một thời gian sống hoặc làm việc ở đây, rất nặng lòng với đất cố đô và đã sáng tác  nhiều ca khúc bất hủ dành cho xứ Huế. Trong số nhạc sĩ này ta có  Duy Khánh, Hoàng Thi Thơ, Dương Thiệu Tước  vv…

Lan Hương chuyển tiếp

Logo thu gian

Tr Ba gia 2THƯƠNG…QUÁ ĐÃ

Chuyện tình cảm động dành cho một người tình xa…

Người đàn bà thì thầm:

“Anh phải gắng nhớ hết những lời em dặn dò. Số tiền tháng này em gởi theo cho anh tiêu vặt.

Đừng khư khư cái tật dành dụm như ngày xưa. Cứ tiêu pha thoải mái, khi hết em lại gởi thêm cho.

Nhân đây, em gởi thêm vài tờ báo cho anh đọc những lúc nhàn rỗi. Cái điện thoại di dộng, i-phone, đời mới này là quà tết của em.Coi vo hinh 1 Mong anh sẽ  thích.

Còn nữa, anh phải gắng nghĩ ngơi điều độ để giữ gìn sức khỏe đừng quá vất vả nhe anh.

À, con bé ở hôm trước em mướn về có phụ giúp được việc không ?

Em biết anh thui thủi một mình, không người chăm nom săn sóc cơm nước, không ai hủ hỉ sớm hôm, mà em thì lại chưa thể sống hẳn bên cạnh anh.

Em cứ mãi sợ anh buồn.

Cung 4Nay em lại mướn thêm một đứa nữa cho vui nhà vui cửa, có thêm người ra người vào. Giờ đã có hai đứa nó, trẻ đẹp, giỏi giang, lại khéo chiều chuộng thay em lo lắng cho anh, em cũng yên lòng phần nào. Dạo này chắc anh vui nhiều nên ít về thăm em…”

 Người đàn bà ngồi trước ngọn lửa, vừa luyên thuyên nói, vừa liền tay đốt lia lịa xấp tiền đô la, điện thoại di dộng, xấp báo cũ, và một con hầu xinh đẹp mua từ Phố Hàng Mã về”

Tr Cuoi xua 2TRAI KHÔN TÌM DZỢ

Trai đc thân chưa mt ln có dz

Tìm bn đi đ trao đi dzăn thơ,

Nếu hp nhãn s tiến ti… hng ch

Xin thành thc, đng làm tui… đau kh.

Tr bang hoangVì… bi ti hôm qua nghe m già than th

“Tng tui ny mà chưa có con dâu

L mai đây khi mi gi bc đu

Không cháu ni thit tui già qunh qu

Thy m bun, lòng anh đau như xé

Nên quyết lòng đi kiếm “gh” mau mau

Liu thân trai gia chn vàng thau

Tr Ga cuoi 2i hai bến nưc, trong nh, đc…CHY.

Anh gin thôi mà, em đng áy náy

Anh rt ga-lăng, t tế, đàng hoàng

Hi xa xưa cũng có lúc đi hoang

Gi tu tnh, ăn chay … nhưng ng MN.

Yên Nhàn chuyn tiếp

NHỮNG NHẠC SĨ GỐC HUẾ (1/2)

Logo nhan vat

Tr danh dan 3NHỮNG NHẠC SĨ

GỐC HUẾ

Một bài viết về Các Ca Nhạc Sĩ đất Thần Kinh trước 1975 tương đối đầy đủ. Vẫn còn một số tên tuổi không thể thiếu : Dương Thiệu Tước , Hoàng Thi Thơ… Còn … sau này ? Vẫn là một dấu hỏi để trống không biết đến bao giờ !

Đa số người VN biết Huế không chỉ vì Huế có nhiều cảnh đẹp, có nhiều di tích lịch sử như đền đài, lăng tẩm, thành quách cổ kính mà còn vì những bài thơ trữ tình của các thi nhân nổi tiếng, những câu hò êm ái đượm tình quê hương và nhất là những bản tân nhạc ca tụng xứ Huế thơ mộng đã được phổ biến đến khắp mọi miền trên đất nước.

Có những người chưa bao giờ đặt chân đến Huế nhưng qua các bài hát lại thuộc lòng tên những danh lam thắng cảnh của đất cố đô như sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ, đài Nam Giao, thôn Vĩ Dạ vv… Huế là cái nôi văn hóa của miền Trung, là nguồn cảm hứng của các văn nhân, nghệ sĩ, là nơi dừng chân của các tao nhân mặc khách.

Người ta biết đến Huế nhiều nhưng ít ai biết đất cố đô đã sản sinh ra bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác tài hoa. Khi người Pháp đặt chân lên đất nước VN họ mang theo vào cả nền âm nhạc Tây phương và đem truyền bá trong dân chúng. Những nhạc sĩ của đất Thần Kinh cũng dần dần làm quen với ký âm pháp phương Tây và từ đó các nhạc sĩ sang tác tân nhạc đầu tiênNg Van Thuong 1 ra đời .

1/- NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN THƯƠNG 

Người nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc VN ở cố đô Huế là nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Ông sinh ngày 22/05/1919 và mất ngày 06/12/ 2002 tại Saigon, hưởng thọ 84 tuổi.  Ông sinh ra trong một gia đình yêu thích âm nhạc. Năm lên 9 tuổi ông bắt đầu học đàn nguyệt sau đó qua sách vở của người Pháp ông tự học ký âm pháp.

Năm 1936 ông tốt nghiệp bậc trung học tại trường Khải Định Huế và cũng năm này ông sáng tác bản nhạc đầu tay “Tiếng sông Hương” là bài tân nhạc đầu tiên của xứ Huế. Lúc ấy ông mới 17 tuổi nhưng tên của ông đã bắt đầu đi vào làng âm nhạc VN.

Năm 1939 ông lại cho ra đời bản “Đêm đông” là một kiệt tác của tân nhạc VN thời bấy giờ. Bài hát với nét nhạc trữ tình êm ái tiềm ẩn một nỗi buồn man mác, lời ca trau chuốt, mượt mà, đã đi vào lòng người VN qua bao thế hệ. Nữ ca sĩ Bạch Yến là người hát bài “Đêm đông” hay nhất. Bài ca này lúc đầu được viết theo thể điệu Tango nhưng khi Bạch Yến trình diễn thì chuyển qua Slow Rock nghe hay hơn.

Trong thập niên 60 cô cũng đã trình bày nhạc phẩm này trong sô Ed Sullivan của Mỹ. Năm 1942 nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác thêm ca khúc “Bướm hoa” cũng được nhiều người ưa thích nhưng không bằng “Đêm đông”.

Sau đó ông theo kháng chiến tập kết ra Bắc. Ở ngoài Bắc trong thời gian chống Pháp ông viết bản “Bình Trị Thiên khói lửa”, soạn nhạc cho các điệu múa của các vở kịch “Chim gâu”, “Tấm Cám”, “Múa ô”, “Chàm rông”. Nhạc phẩm “Bài ca trên núi” ông viết cho phim “Vợ chồng A Phủ”.

Sau một thời gian tu nghiệp tại CHDC Đức ông trở về nước làm giám đốc Nhạc viện Hà Nội và tiếp tục sang tác. Ông có những tác phẩm về khí nhạc như “Lý hoài nam”, “Buôn làng vào hội”, “Quê hương”. Trong thời gian ở Đức ông có sáng tác khí nhạc như “Ngày hội non sông”, “Rhapsodie 2”, “Trở về đất mẹ”. Bản giao hưởng “Đồng khởi” của ông được trình diễn ở Leipzig (CHDC Đức) năm 1971.

Cho dù các tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương có uyên bác đến đâu đi nữa rất ít người biết đến. Đa số người VN chỉ biết đến ông qua nhạc phẩm “Đêm đông” Ng Van Thuong 2mà thôi.

Đêm đông xa trông cố hương buồn lòng chinh phu

Đêm đông bên sông ngẩn ngơ kìa ai mong chồng

Đêm đông thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư

Đêm đông ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng

Đêm đông ta lê bước chân phong trần tha hương

Có ai thấu tình cô lữ đem đông không nhà .

Hoàn cảnh đưa đẩy nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác bài ca bất hủ này đã được chính tác giã kể lại cho nhạc sĩ Trương Quang Lục như sau :

“Sau khi đỗ Thành Chung ở Huế tôi ra Hà Nội học để thi Tú Tài. Dịp Tết Nguyên đán năm 1939, không có đủ tiền để về quê ăn Tết, đêm giao thừa tôi đi lang thang khắp phố phường Hà Nội dưới trời mưa phùn lạnh buốt, không một bóng người qua lại trên đường. Qua ga Hàng Cỏ nghe tiếng còi vang lên trong đêm khuya càng thêm nhớ nhà da diết. Dọc phố Khâm Thiên một vài căn nhà vẫn còn sáng đèn. Nghe tiếng chân qua đường, một cô gái bước ra nhìn, thất vọng quay vào, ghé mình soi gương treo cạnh cửa, đưa tay vuốt mái tóc. Trời đã khuya, tôi trở về phòng trọ, gió lùa qua khe cửa rít lên từng hồi suốt đêm. Tôi trăn trở không ngủ được, nghĩ đến cuộc đời bất hạnh của những người nghèo khổ, tha hương trong đêm đông lạnh lẽo. Và bài hát “Đêm đông ” ra đời trong đêm ấy.

2/- NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA 

Ông sinh năm 1914 tại làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị và mất năm 1997 tại Saigon, hưởng thọ 83 tuổi. Ng Huu Ba 2Tuy sinh ra tại Quảng Trị nhưng suốt cuộc đời và sự nghiệp của ông đã gắn liền với cố đô Huế.

Với bút hiệu Đạo Tâm, ngoài tân nhạc ra ông là một nhà nghiên cứu, một nhạc sư cổ nhạc VN. Ông biết sử dụng nhiều loại nhạc khí cổ truyền khác nhau, là người có công phát triển và bảo tồn nền cổ nhạc miền Trung. Năm lên 8 tuổi ông bắt đầu học đàn. Năm 16 tuổi ông đã hòa nhạc cổ thu vào dĩa Beka của Đức.

Năm 1932 ông áp dụng ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc VN ở Huế. Công trình của ông rất được nhiều người tán thưởng. Năm 1938 ông đậu thủ khoa đàn nhị. Tháng 8 năm 1945 sau khi Việt Minh lên nắm chính quyền ông về quê Quảng Trị. Nhưng cuộc đời của ông chỉ có duyên nợ với đất Thần Kinh nên năm 1950 ông trở lại Huế. Cũng năm này ông thành lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng quốc nhạc VN, bảo tồn nhiều loại nhạc khí cổ truyền, tàng trữ sách vở về âm nhạc cũng như những tài liệu thu thanh quí giá . Chỉ cần vào cửa Thượng Tứ, rẻ trái khoảng một trăm thước ta sẽ thấy Viện Tỳ Bà của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Ông được triều đình Huế tặng thưởng huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng chức Hàn lâm viện Đãi chiếu.

Sau 1954 ông vào Nam, dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, làm khoa trưởng lý thuyết các trường đại học Vạn Hạnh, Saigon, Huế. Sau đó ông trở về làm giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế. Sau biến cố Tết Mậu Thân (1968) Viện Tỳ Bà bị tàn phá, gia đình ông dời vào Saigon. Sau năm 1975 gia đình ông thành lập một cơ sở nhỏ chuyên sản xuất các loại đàn cổ rất tinh vi ở quận Phú Nhuận, đồng thời ông cùng người con gái lớn là nhạc sĩ Tuệ Quang mở lớp dạy đàn tranh, học sinh theo học rất đông.

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba là người có công truyền bá cái tinh hoa của nền quốc nhạc về nhiều phương diện như trình diễn, khảo cứu , cổ động và giáo dục. Ông đã đào tạo được nhiều học trò nổi tiếng trong ngành cổ nhạc như Phạm Thúy Hoan (Saigon), Phương Oanh (Paris), Quỳnh Hạnh (Paris).

Ng Huu Ba 1Tác phẩm ông để lại cho hậu thế cũng khá nhiều .

Về tân nhạc gồm có các nhạc phẩm như : “Quảng đường mai (1940)”, “Xuân xuân (1947)”, “Lửa rừng đêm (1947)”, “Thu khói lửa (1950)”, “Tiếng hát quân Nam (1950)”, “Ánh dương trời Nam (1951)”.

Về các tác phẩm nghiên cứu và giáo dục gồm có : “Tự học đàn nguyệt (1940)”, “Vài thiên kiến về âm nhạc (1950)”, “Bản đàn tranh (1951)”, Nhạc pháp quốc học (1960)”, “Đàn tỳ bà (1962)”, “Đàn độc huyền (1962)”, “Đàn nhị huyền (1962)”, “Bài ca Huế (1962)”, “Phương pháp học đàn tranh (1962)”, “Dân ca VN (1961)”.

Năm 1966 thu thanh tài liệu nhạc Huế (nhạc Cung đình và nhạc Phật giáo) cùng với Ca Huế cho cơ quan UNESCO vào dĩa 33 vòng đặt tên là VIETNAM 1.

Năm 1971 thu thanh VIETNAM 2 do ông cung cấp tài liệu với sự trợ giúp của nhạc sĩ Trần Văn Khê. Năm 1998 cả hai dĩa VN1 và VN2 được hãng đĩa Rounder Records ở Mỹ tái bản dưới hình thức CD.

3/- NHẠC SĨ VĂN GIẢNG

Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12/05/1924 tại Huế trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Ông nội của ông là một nhạc sĩ cổ nhạc. Lúc còn nhỏ ông học đàn mandoline. Khi lên trung học thấy người ta đàn guitare ông rất thích.

Có giai thoại kể rằng thuở đó trong khu phố của ông có một người biết đàn guitare, ông đến xin học nhưng ông thầy này ra điều kiện là phải mua tặng cho ông ta một cây đàn guitare mới. Nhà nghèo làm sao có tiền mua đàn để tặng, ông phải đành ở nhà tự học.Nhưng sau môt thời gian tài nghệ sử dụng đàn guitare cùng kiến thức về âm của ông đã vượt qua ông thầy và chính ông này lại đến nhờ ông chỉ bảo thêm.

Năm 1949 ông sáng tác bài “Thúc quân” một bản nhạc hùng rất được nhiều người ưa thích. Cùng năm này ông cho ra đời bài “Ai về sông Tương” Van Giangvới bút hiệu Thông Đạt. Nhạc phẩm này được thính gìả cả nước tiếp đón một cách nồng nhiệt qua các đài phát thanh, riêng đài Pháp Á chọn làm bài hát hay nhất trong năm 1949 và được tái bản 6 lần không kể những lần in tại hải ngoại sau 1975. Hiện nay nhạc phẩm này được đánh giá là một trong 10 bài hát hay nhất trong âm nhạc VN.

Có một giai thoại khác về nhạc sĩ Văn Giảng với bài Ai về sông Tương” như sau : “Trong các thập niên 40, 50 ở Huế có nhà xuất bản Tinh Hoa nổi tiếng chuyên xuất bản các nhạc phẩm của các nhạc sĩ trong nước. Một hôm ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà xuất bản, nói với nhạc sĩ Văn Giảng đại khái rằng ông chỉ biết làm nhạc hùng chứ không biết làm nhạc trữ tình như các nhạc sĩ khác vì trước đó Văn Giảng chỉ sáng tác nhạc hùng mà thôi. Ông im lặng không nói gì cả. Về nhà ông lặng lẽ sang tác bài “Ai về sông Tương” và gởi đến các đài phát thanh trong nước. Ông Tăng Duyệt nghe bài hát hay quá muốn xuất bản nhưng không biết Thông Đạt là ai. Một hôm nhạc sĩ Đỗ Kim Bãng và nhà văn Lữ Hồ đến nhà Văn Giảng chơi, thấy bản thảo của bài hát này và nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này liền lái xe chạy đến nhà nhạc sĩ thương lượng ký hợp đồng xuất bản. Thời đó các thanh niên đều thuộc bài này và thường hay hát nghêu ngao :

“Ai có về bên bến sông Tương, nhắn người duyên dáng tôi thương, sao đành nỡ dứt tơ vương ….” .

Trong hai thập niên 50-60 ông là giáo sư âm nhạc tại các trường trung học ở Huế như Quốc Học, Hàm Nghi, Trường đào tạo giáo viên tiểu học và trưởng ban nhạc đài phát thanh Huế. Trong thời gian này ông cho xuất bản tập nhạc “Hát mà học” gồm 10 bài hát dành cho thiếu nhi. Ông được học bổng du học ngành nhạc tại Hawai và Bloomington.

Năm 1956 ông thành lập ban hoà tấu Việt Thanh gồm các nhạc cụ cổ truyền như tỳ , nhị, độc huyền, nguyệt ,sáo vv… và ông sáng tác cho ban này bản hòa tấu “Ai đưa con sáo sang sông” dài 60 phút. Ngoài ra ông còn cho xuất bản sách “Kỹ thuật hòa âm” Van Giang 7dày 350 trang .

Năm 1969 ông vào Nam, dạy tại trường QGAN Saigon và soạn hòa âm cho hai hãng dĩa Asia và Sóng nhạc. Ông dược Bộ Văn Hóa cử làm Trưởng phòng học vụ Nha Mỹ thuật, đảm trách học vụ các trường âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật .

Năm 1970 ông được Huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống VNCH với bản “Ngũ tấu khúc” (Quintet for flute and strings). Ông còn được dề cử làm giám đốc nghệ thuật điều hành Đoàn văn nghệ VN gồm 100 nghệ sĩ tân, cổ nhạc và vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách cùng ban vũ cổ truyền do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đảm trách tham dự Hội Chợ Quốc Tế ở Osaka Nhật Bản .

Ngoài tên Văn Giảng với các bài ca hùng tráng như “Thúc quân” , “Lục quân VN” (bài hát này dược các quân trường ở miền Nam chọn làm bài ca nhịp bước cho các tân binh mới nhập ngũ), “Đêm Mê Linh”, “Quân hành ca”, “Qua đèo”, “Nhảy lửa”, ông còn có bút hiệu Thông Đạt với các nhạc phẩm trữ tình như “Ai về sông Tương” , “Đôi mắt huyền”, “Hoa cài mái tóc”, “Thương tà áo bay”, “Tình em biển rộng sông dài”, “Xin đừng bỏ nhau”, “Xin đừng chờ em nữa”, “Năm nay em mấy tuổi” và bút hiệu Nguyên Thông với các ca khúc Phật giáo như “Từ Đàm quê hương tôi”, “Mừng Đản sanh” , “Ca Tỳ La Vệ”, “Vô thường”, “Hoa cài áo lam”, “Bao la vô tận”, ”Bờ mê bến giác”, “Buông xả”, ”Dòng sinh diệt ”, “Đời sống Đức Phật” , ”Giả hợp”, “Hãy tự giác”, “Mong tỉnh ngộ”, “Tâm bệnh”, “Tìm đâu xa” , “Vũ khí chơn tâm” .

Sau 1975 ông kẹt lại ở Saigon và có mở lớp dạy nhạc tại đường Phạm Văn Hai, gần chợ Ông Tạ, quận Tân Bình. Năm 1981 ông vượt biên đến đươc Natuna của Nam Dương và để cám ơn hòn đảo đã cho ông dừng chân trên đường đi tìm tự do ông sáng tác bản “Natuna người tình đầu”. Hiện giờ ông đang định cư tại Thành phố Foolscray , bang Victoria, nước Úc. Ông là một nhạc sĩ có tài, nhạc phẩm của ông phong phú đa dạng. Ông đã đóng góp nhiều cho nền âm nhạc VN nhưng không hiểu tại sao các Trung Tâm sản xuất DVD ca nhạc lại nỡ quên đi không làm DVD về sư nghiệp âm nhạc của ông .

4/ – NHẠC SĨ ƯNG LANG

Người nhạc sĩ đầu tiên của đất Thần Kinh mang dòng máu hoàng tộc là Ưng Lang. Ông tên thật là Nguyễn Phước Ưng Lang, sinh năm 1919 tại Huế. Ung Lang 1Ông chuyên về Hạ uy cầm (guitare hawaienne) một loại đàn rất thông dụng thời bấy giờ. Ông là tác giả những nhạc phẩm như “Chiều về thôn Vỹ” , “Nhạc lòng” , “Chiều tiễn biệt và nhất là ca khúc “Mưa rơi” viết chung với Châu Kỳ đã đưa tên tuổi ông đến với những người yêu nhạc VN.

Tác phẩm “Mưa rơi” là kết quả của mối tình đầu đau thương của tác giả . Sau khi tốt nghiệp Trường Công chánh Huế ông được bổ nhiệm về Sở Lục Lộ tỉnh Nghệ An đặt ngay tại thị xã Vinh. Lúc ấy ông 21 tuổi. Ông được gia đình bà chị có cửa hàng buôn bán tại Vinh cho một căn phòng để ở. Phòng ông có cửa sổ nhìn sang dãy nhà đối diện bên kia đường. Chiều chiều sau khi đi làm về ông thường mở cửa sổ cho mát và lấy đàn ra lả lướt vái bài cho đỡ buồn. Không ngờ tiếng đàn Hạ Uy cầm du dương của ông lại lọt đến tai của các nghệ sĩ của thị xã. Họ mời ông gia nhập “Ban Nhạc Mang Hưng” mà đa số nhạc sĩ là người Việt gốc Hoa. Nhưng đối với ông tiếng đàn lọt vào tai các nhạc sĩ của thị xã không quan trọng bằng lọt vào tim của một hoa khôi sống với cha mẹ trong căn nhà đối diện với nhà chị ông.

Ta hãy nghe nhạc sĩ Lê Hoàng Long nói về giai nhân, người yêu đầu tiên của nhạc sĩ Ưng Lang như sau : “Ưng Lang đưọc biết mỹ danh người đẹp là Ch.L. tuổi vừa đôi chín. Từ đó, hàng ngày khi màn đêm buông xuống, Ưng Lang lại lấy đàn ra nắn phím buông tơ. Tiếng đàn Hạ Uy cầm réo rắt , ngân nga vọng sang tận bên kia đường rồi vang trong nhà người đẹp. Ngày nào như ngày ấy, đúng giờ là tiếng đàn lại nỉ non, thánh thót khiến mỹ nhân nhẹ nhàng thướt tha, uyển chuyển, lúc ẩn, lúc hiện sau tấm màn cửa đong đưa như đang uốn lượn trong vũ khúc trước làn gió nhẹ. Tay nắn phím, tay buông tơ nhưng mắt Ưng Lang vẫn kín đáo nhìn nên thấy cảnh đẹp như Hằng Nga trong vũ khúc Nghê Thường. Tức cảnh sinh tình, tiếng đàn Ưng Lang lại càng thêm thánh thót và nghe thấy buồn man mác hơn. Ung Lang 2Nếu ai nhìn thấy được cảnh ấy, khách quan cũng nhận định giai nhân và nghệ sĩ tình trong như đã, mặt ngoài còn e. Ưng Lang mừng thầm cho rằng đây là mối lương duyên tiền định nên ngày ngày chải chuốt từ y phục đến tiếng đàn”.

Sau đó hai người yêu nhau bằng một mối tình thật đằm thắm và thơ mộng. Họ cùng thề non hẹn biển sống với nhau đến hết cuộc đời. Nhưng có ai biết được chữ ngờ. Đôi tình nhân đâu biết cuộc tình nồng thắm của họ sẽ phải tan vỡ vì chiến tranh. Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp và ra lệnh cho tất cả các công chức phải trở về nguyên quán. Ưng Lang cũng không thoát khỏi cái lệnh quái ác ấy nên phải khăn gói trở về làm việc tại Sở Công Chánh Thừa Thiên. Buổi tiễn đưa đôi tình nhân bịn rịn chia tay lòng đau như cắt. Về đến quê nhà lại gặp cảnh mưa rơi rả rich suốt ngày, bầu trời u ám, nỗi buồn càng thêm da diết. Trong hoàn cảnh đó Ưng Lang sang tác nhạc phẩm “Mưa rơi” và bài hát này đã trở thành ca khúc vượt thời gian :

Mưa rơi, chiều nay vắng người

Bên thềm gió lơi, mơ bóng ngàn khơi

Mưa rơi, màn đêm xuống rồi

Mây sầu khắp nơi, thương nhớ đầy vơi

Mưa rơi , đìu hiu giữa trời

Đêm dài vắng ai, thương nhớ nào nguôi .

Sau ngày chia tay hai người thường xuyên viết thư cho nhau và chờ ngày sum họp. Nhưng tháng 8 năm 1945 chiến tranh nổ ra, không biết gia đình của Ch.L. trôi giạt phương trời nào và từ đó đôi tình nhân mất hẳn liên lạc. Vài năm sau Ưng Lang lập gia đình, sống và làm việc tại Huế. Trước 1975 ông là giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế. Mãi đến 20 năm sau ông mới được tin Ch.L., người yêu cũ, đã chết trong chiến tranh.

9 Chau Ky5/- NHẠC SĨ CHÂU KỲ

Nhạc sĩ Châu Kỳ sinh ngày 05/11/1923 tại làng Dưởng Mong, tỉnh Thừa Thiên trong một gia đình sống bằng nghề cổ ca nên ông rất am hiểu về cổ nhạc miền Trung. Học xong chương trình tiểu học tại trường Tiểu học Dưởng Mong, ông lên Huế học tại trường Pháp Việt. Ông có giọng hát rất hay nên bạn bè rất thích nghe ông hát. Thấy ông hay hát những bài do Tino Rossi ca trong các dĩa của Pháp nên ông đưọc sư huynh Pétrus Thiều dạy cho nhạc lý Tây phương.

Khởi đầu ông học đàn mandoline. Câu chuyện vui ông kể trên sân khấu Thúy Nga là mối tình đầu lãng mạn của lứa tuổi dậy thì thiếu suy nghĩ khi ông muốn dùng tiếng đàn mandoline để chinh phục trái tim người đẹp Kim Anh, con gái của vị thượng thư, để rồi bị giai nhân từ trên lầu tạt nước xuống khiến ông phải ôm đàn chạy trốn. Nhưng thế sự thăng trầm, cuộc đời dâu biển, mười mấy năm sau ông gặp lại người đẹp tại Saigon trong cảnh nghèo khổ, xác xơ trong khi ông đang là một ca,nhạc sĩ nổi tiếng. Sự gặp gỡ mang nhiều kịch tính này làm ông ngậm ngùi nghĩ đến những đổi thay của đời người và ông viết nên nhạc phẩm “Giọt lệ đài trang ” .

Lúc ông còn theo học bậc trung học thì chị của ông là Châu Thị Minh thành lập đoàn ca kịch Huế lấy tên là Hồng Thu. Đoàn rất cần ca sĩ trẻ nên bà chị tha thiết yêu cầu ông giúp. Vì gia đình nghèo ông do dự không biết nên tiếp tục học hay là đi giúp chị. Cuối cùng ông bỏ học đi theo chị, trước là để giúp chị trong lúc khó khăn, sau là có tiền giúp cha mẹ. Từ đó ông theo đoàn đi lưu diễn khắp nơi.

9 Chau Ky 6Thoạt đầu đoàn sang Lào trình diễn tại Savannakhet đến Thakhet rồi thủ đô Vạn Tượng. Sau khi gặt hái đưọc kết quả tốt đẹp ở Lào, doàn làm một vòng lưu diễn các tỉnh VN. Đoàn ra Bắc xong trở lại Huế rồi vào Nha Trang. Tại đây trong số khán giả thường trực có một nữ sinh tuyệt đẹp, con nhà tử tế được nhiều chàng trai trong tỉnh theo đuổi, cô vẫn dửng dưng như không. Nhưng khi thấy chàng ca sĩ Châu Kỳ đẹp trai với giọng hát trầm ấm, quyến rủ, tim cô rung động rồi si mê chàng ca sĩ. Châu Kỳ cũng ngất ngây trước vẻ đẹp của cô nữ sinh lãng mạn và hai người yêu nhau.

Nhưng thuở ấy cái thành kiến “xướng ca vô loại” vẫn bám rễ trong đa số gia đình VN nên cha mẹ của Đoàn Thị Sum, tên cô nữ sinh, cấm không cho cô gặp Châu Kỳ nữa. Thất vọng vì tình cô uống thuốc độc tự tử và chết ngày 10/12/1942. Ông quá đau khổ muốn chết theo người yêu nhưng các nghệ sĩ trong đoàn ra sức an ủi, can ngăn, nhắc cho ông biết còn bổn phận đối với cha mẹ và gia đình nên ông mới khuây khỏa phần nào. Do đó ta mới biết được chút ít tại sao những bản tình ca của ông hồi đó đều là nhạc buồn như “Khúc ly ca”, “Xin làm người tình cô đơn” vv… Nghe tin Huế bị bão lụt , ông trở về Huế thăm gia đình. Nhưng khi về đến quê mẹ Thanh Hà ông thấy quang cảnh xác xơ, ruộng đồng bị tàn phá, ngôi nhà cũ đã bị san bằng và mẹ ông bị lũ lụt cuốn trôi đi mất. Hoàn cảnh khổ đau này khiến ông viết lên bài “Trở về”, bài hát tiêu biểu cho sự nghiệp âm nhạc của Châu Kỳ :

9 Chau Ky 5Về đây buồn trông cánh chim bay

Về đây buồn nghe gió heo may

Về đây đâu còn phút sum vầy

Đâu còn thắm niềm say

Lạnh lung ngắm trời mây ….

Năm 1947 ông vào Saigon hát cho đài phát thanh Pháp Á trong ban “Thần Kinh” của nhạc sĩ Mạnh Phát với các ca sĩ thời đó như Minh Diệu, Minh Tần, Mộc Lan, Linh Sơn, Phan Đức… và ban “Tiếng Thùy Dương” do chính ông làm trưởng ban. Trong thời gian này ông và ca sĩ Mộc Lan yêu nhau và trở nên vợ chồng. Cặp danh ca Mộc Lan – Châu Kỳ rất nổi tiếng thưòng xuất hiện trong các chương trình đại nhạc hội và chương trình phụ diễn tân nhạc tại các rạp chiếu bóng .

Cuối năm 1949 cặp ca sĩ Châu Kỳ – Mộc Lan được ông Thái Văn Kiểm lúc ấy là Giám đốc Thông tin Huế mời về hát cho Đài phát thanh Huế. Tình nghệ sĩ thường hay mong manh, năm 1952 cặp vợ chồng Châu Kỳ – Mộc Lan chia tay nhau. Ông buồn bã một mình trở lại Saigon. Đây cũng là thời gian buồn khổ khác của Châu Kỳ và ông đã viết lên những bản nhạc buồn như “Từ giã kinh thành” , “Mưa rơi” (viết chung với Ưng Lang)… và ông định cư tại Saigon cho đến ngày nay. Ông tiếp tục hát cho các Đài phát thanh Quốc Gia, Pháp Á và đi trình diễn trong các đại nhạc hội khắp nơi trong nuớc. Sau đó ông bị động viên và phục vụ trong đoàn Văn nghệ quân đội.

Năm 1955 Châu Kỳ kết hôn với Kha Thị Đàng, một cô gái miền Nam. Hôn lễ được cử hành tại nhà hàng Trương Ký ở Chợ Lớn. Trong số khách tham dự có rất nhiều ca, nhạc sĩ như Phạm Duy, Phạm Dình Chương, Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc, Dương Thiệu Tước, Trần Văn Trạch, Thu Hồ, Văn Phụng, Châu Hà, Hoàng Trọng, Thẩm Oánh… Đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc và có bốn người con, ba trai, một gái. Tất cả đều lập gia đình .

Ngoài những bản nhạc nêu trên Châu Kỳ còn có những nhạc phẩm sau : Khi ánh trăng vàng lên khơi, Chiều trên đồi thông, Cố đô yêu dấu, Đừng nói xa nhau, Em không buồn nữ chị ơi, Khuya nay anh đi rồi, Lá vàng khóc lá xanh rơi, Miền Trung thương nhớ, Giữa lòng đất mẹ, Tôi chưa có mùa xuân, Đón xuân này nhớ xuân xưa, Sao chưa thấy hồi âm, SG Lan Huong 2Cánh nhạn hồi âm, Con đường xưa em đi, Cuối đường kỷ niệm, Nước mắt quê hương, Em sắp về chưa, Vào mộng cùng em, Được tin em lấy chồng …

Sau 1975 ông bán căn nhà cũ và chiếc xe Vespa dọn qua Tân Qui, Nhà Bè trong căn nhà ọp ẹp với chiếc xe đạp cũ. Tại đây ông đã sáng tác bài “Bóng mát Tân Qui” lời ca của nhà thơ Kiên Giang, “Một mình với ghi-ta”, “Giọt đàn với giọt lệ”, “Bỏ phố lên rừng”, “Đôi dép ngược” … Còn 1 kỳ nữa – mai tiếp

Lan Hương chuyển tiếp

Logo thu gian

SG My Nhan 3Thơ gửi quý cụ…

THỜI OANH LIỆT

NAY CÒN ĐÂU ?

Ngày xưa súng ngắn ngang hông,

Ngày nay súng ngắn để không trong quần.

Ngày xưa dùng gậy chỉ huy,

Ngày nay dùng gậy khi đi dò đường.

chang va nang 5Ngày xưa ra bẩy vào ba,

Ngày nay tám tháng xả ga một lần.

Ngày xưa sàn nhẩy múa chân,

Ngày nay đi đứng phải cần ba-toong.

Ngày xưa uống cả chục lon,

Ngày nay ngủ gục … nửa lon vẫn còn.

Ngày xưa ngồi lái xe con,

Ngày nay xe buýt mài mòn đôi mông.

Ngày xưa  mập mạp trắng hồng,

Ngày nay xanh mét lồng ngồng bộ xương.

Ngày xưa như Tướng như Vương ,

Tr map 5Ngày nay thất thế như phường hát rong.

Ngày xưa đường phố long nhong,

Ngày nay ba buổi trong phòng … đọc kinh.

Ngày xưa tiệc nhậu linh đình,

Ngày nay ăn uống tận tình kiêng khem.

Ngày xưa ăn Chả ăn Nem,

Ngày nay ngao ngán chẳng thèm liếc qua.

Ngày xưa quán cóc hàng quà,

Vo chong gia 5Ngày nay chỉ mỗi cơm nhà mà thôi.

Ngày xưa cờ bạc liên hồi,

Ngày nay lưng mỏi không ngồi được lâu.

Ngày xưa sức mạnh như Trâu,

Ngày nay uể oải ngồi đâu ngáp ruồi.

Ngày xưa xông xáo ngược xuôi,

Ngày nay rờ rẫm đuổi ruồi không bay.

Tr Yamaham 4Ngày xưa … qua núi vác cày,

Ngày nay … nằm thở dang tay xin hòa.

Ngày xưa tiếng lớn như loa,

Ngày nay … hổn hển như là thiếu hơi!

Ngày xưa kẻ đón người mời,

Ngày nay cô lẻ vắng lời hỏi thăm.

Ngày xưa số tựa trăng rằm,

Ngày nay số tối như nằm chùm chăn.

Tr Yamaham 6Ngày xưa tánh nóng hung hăng,

Ngày nay ai chửi cũng nhăn răng cười.

Ngày xưa chơi giỏi, học lười,

Ngày nay siêng ngủ lại lười biếng đi.

Ngày xưa tướng tá uy nghi,

Ngày nay lệt bệt chân đi không đều.

Ngày xưa dáng dấp mỹ miều,

Ngày nay như thể dây thiều đứt ngang. 

Ngày xưa phung phí bạc ngàn,

Ngày nay góp nhặt lon mang đổi tiền.

Ngày xưa vui thú cùng Tiên,

Tr ong gia 1Ngày nay vui trọn một mình héo hon. 

Ngày xưa ăn mấy cũng ngon,

Ngày nay nhấm nháp hết còn muốn nhai. 

Ngày xưa đấu hót dài dài,

Ngày nay mệt mỏi bái bai xin ngừng..!

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

NGHỆ SĨ DÂN GIAN BẠCH HUỆ

Logo nhan vat

Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ   

9 Bach Hue 2NGHỆ NHÂN DÂN GIAN

NỮ NGHỆ SĨ BẠCH HUỆ

– Lê Phước      

Nếu những bậc trí giả ngày xưa có bốn thú tiêu dao tao nhã là : cầm, kỳ, thi, họa (đờn, cờ, thơ, vẽ), thì từ đầu thế kỷ 20 người nông dân miền sông nước Cửu Long cũng bắt đầu biết đến một thú tiêu dao bình dị nhưng rất hàn lâm : Đờn ca tài tử. Đến hiện tại có thể nói rằng, Đờn ca tài tử là một bản sắc văn hóa độc đáo của người Nam Bộ.

Trải qua thời gian trên dưới một thế kỷ, trong làng Đờn ca tài tử đã xuất hiện nhiều “tay ca” cự phách. Và một trong những tay ca thuộc hàng cự phách nhất đó là nữ danh ca Bạch Huệ, người đã “ca tài tử” cho đến ngày nhắm mắt.

Con nhà tông …

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ sinh năm 1933 tại Cần Thơ. Cha cô là thầy đờn Sáu Tửng, một tay đờn kìm quán tuyệt, một danh cầm lừng lẫy thuộc hàng tiền bối của Văn Vĩ, Năm Cơ, Bảy Bá (Ba người được mệnh danh là Tam Hùng trong làng đờn cổ nhạc hồi trước). Danh cầm Sáu Tửng, ngoài nổi tiếng trong lĩnh vực Đờn ca tài tử, còn tham gia đờn cho nhiều đoàn hát cải lương chuyên nghiệp. Bạch Huệ có một người anh trai là nhạc sĩ nổi tiếng Huỳnh Anh, tác giả của bài tân nhạc trứ danh Mưa Rừng 9 Bach Hue 1(viết riêng cho Thanh Nga và đến hiện tại vẫn còn được nhiều người yêu thích).

Từ nhỏ, Bạch Huệ đã sống trong cái không khí Đờn ca tài tử của vùng đất Cần Thơ. Tiếng Đờn, lời ca câu hát tài tử đã thấm vào tâm hồn của cô lúc nào không hay biết. Để rồi, dù thân phụ không cho, nhưng Bạch Huệ vẫn lén học ca tài tử. Đến năm 13 tuổi, Bạch Huệ đã được mời ca trên đài phát thanh Pháp Á ở Sài Gòn. Bạch Huệ ca đã có tiếng nhưng cha cô lại chưa hay biết. Đến năm Bạch Huệ 18 tuổi, khi danh cầm Sáu Tửng phát hiện con gái là một tay ca tài tử điệu nghệ thì chuyện đã rồi. Và ông phải chấp nhận cái cảnh: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”.

Tiếng tăm Bạch Huệ trở nên vang dội khi mà vào năm 1951, tờ báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc – người chủ xướng giải Thanh Tâm, cho trưng cầu ý kiến độc giả, thì Bạch Huệ đoạt danh hiệu “Nữ đệ nhất danh ca”. Sau đó, nhiều đoàn hát đã mời Bạch Huệ cộng tác. Thế nhưng, có lẽ tổ nghiệp đã muốn cho “hai loài hoa trắng” trấn giữ mỗi người một lĩnh vực, nên mới cố tình sắp đặt cho “Hoa lan trắng” (Út Bạch Lan) “trấn” bên cánh nữ của cải lương, còn “Hoa huệ trắng” (Bạch Huệ) trấn bên cánh nữ của Đờn ca tài tử. 9 Bach Hue 4Và có lẽ vì thế, sau khi tham gia một số đoàn hát cải lương chuyên nghiệp, Bạch Huệ đã không thu được thành công như khi còn ở bên Đờn ca tài tử. Cuối cùng, Bạch Huệ trở lại với lĩnh vực Đờn ca tài tử và hầu như đã “ngự trị” lĩnh vực này đến cuối đời.

Mấy thập niên qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, sân khấu cải lương chuyên nghiệp đã dần mất khán giả. Thế hệ khán giả lớn tuổi đôi khi cũng không còn mặn mà với cải lương. Và dĩ nhiên, lượng khán giả trẻ đến với cải lương là rất ít. Đờn ca tài tử là bộ môn “xưa” hơn cải lương nên thu hút càng ít người trẻ tuổi.

Thế nhưng, có một điều đặc biệt đối với Bạch Huệ, đó là giọng ca của cô lại được nhiều bạn trẻ biết đến và yêu thích. Từ năm 2008, Bạch Huệ bị tai nạn giao thông phải ngồi xe lăn, thế nhưng, người ta vẫn thấy cô xuất hiện ở hầu hết các chương trình Đờn ca tài tử từ Sài Gòn đến các tỉnh.

Thời gian gần đây, người ta vẫn còn thấy một bà lão tóc bạc ngồi xe lăn ca trên sân khấu của một phòng trà có tiếng ở Sài Gòn. Mọi người cũng được chứng kiến một hình ảnh đáng ngạc nhiên : mấy chục sinh viên trẻ tuổi ngồi nghe say mê bài Dạ cổ hoài lang được thể hiện bởi một bà lão liệt hai chân phải bám hai tay vào thân cột nhà để ca. Bà lão tóc bạc phơ đó chính là nữ danh ca tài tử Bạch Huệ.

Từ Đờn ca tài tử đến Cải lương

Bạch Huệ “chuyên trị” Đờn ca tài tử, chứ không phải là nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp. Đờn ca tài tử khác biệt với cải lương như thế nào ? Đờn ca tài tử có phải là “quê mùa” như người ta thường nghĩ ? Đờn ca tài tử có “dễ chơi” không ? Xin lướt qua đôi chút về những vấn đề này để hiểu thêm và trân trọng hơn nữa “cái nghề” mà danh ca Bạch Huệ đã gắn bó suốt 70 năm.

Tản mạn từ các tài liệu ghi chép cho liên quan, có thể khái quát về tài tử và cải lương như sau : Người dân đồng bằng Nam Bộ từ bao lâu nay có một thú vui rất văn học, đó là hò đối đáp : Hò trên đồng ruộng khi gieo mạ hay cắt lúa, hò trên sông khi chèo thuyền, hò đêm trăng trong dịp lễ cúng đình …

Từ đó mà bao câu hò điệu lý đã ra đời. Đương nhiên, cái hò không phải là do bà con Nam Bộ sáng tạo ra, 9 Bach Hue 3mà là do ông cha ta đã du nhập vào Nam trong quá trình “Nam tiến”. Thế nhưng, những câu hò điệu lý của bà con Nam Bộ có cái rất riêng, và phải là giọng “rặc” miền Nam thì hò nghe mới hay.

Đến cuối thế kỷ XIX, Nhã Nhạc Cung Đình Huế bắt đầu tiến xuống phương Nam và đương nhiên là được văn hóa Nam Bộ dung hợp như bản chất vốn có của nền văn hóa này. Sự hội ngộ giữa hai nền âm nhạc đã cho ra đời cái gọi là “Đờn ca tài tử”. Bà con nông dân Nam Bộ khi rảnh rỗi, hay nhân dịp trăng rằm, hẹn nhau tập trung lại một nhà, ngồi ngoài sân, cùng “ăn nhậu”, cùng ca hát. “Ăn nhậu” ở đây không mang nghĩa “rượu chè be bét”, mà là : mượn men rượu làm thắm men tình, làm nồng câu ca tiếng hát.

Dần dần, người ta ngồi ca hoài cũng chán, trong khi có những bài ca mới khá dài, có chứa đựng những hành động hay những lời đối đáp. Thế là, người ca tài tử mới bắt đầu đứng dậy “ca” với những “cử chỉ” tay, mắt, mặt… để bổ trợ cho lời ca. Đương nhiên, những cử chỉ điệu bộ này hết sức “thô sơ”, thể hiện đúng như “rập khuôn” cái tình cảm mà bài ca muốn nói. Tức đúng với bản chất chân quê của người nông dân: nghĩ sao nói vậy. Đó là cách ca mà các nhà nghiên cứu sau này gọi là “Ca ra bộ”.

Trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XX, người Việt Nam đã biết đến kịch nghệ của Pháp. Kịch cổ điển của Pháp được biểu diễn trên sân khấu, mỗi vở diễn thường được chia ra thành 5 màn, xoay quanh một cốt truyện nào đó. Loại hình này cũng đã ảnh hưởng đến những người ca tài tử Nam Bộ.

Bởi có người nghĩ : Tại sao chỉ viết những bài ca ngắn mà không viết thành hẳn một tuồng cùng một cốt truyện nhưng có nhiều tình tiết và đưa lên sân khấu biểu diễn. 9 Bach Hue 8Trong ý tưởng đó, “Cải lương” đã ra đời.

Như vậy, Cải lương nói một cách nôm na là Ca ra bộ được đưa lên trình diễn trên sân khấu. Thế nhưng, đã lên sân khấu hát nguyên tuồng thì phải “diễn xuất”. Tức là, người nghệ sĩ trên sân khấu lấy lời “ca” để bổ trợ cho động tác “diễn”. Người ta đến “xem” nghệ sĩ biểu diễn, còn người nghệ sĩ thì “hát” cho người ta “xem”. Bởi vậy mà, thường nghe ông bà ta nói là “hát cải lương”, nhưng lại là “Ca tài tử”. Bởi vì, trong Đờn ca tài tử, thì động tác “ca” là chính mà “ra bộ-diễn” là phụ.

Và khi một nghệ sĩ cải lương và một người ca tài tử thể hiện cùng một bài ca, thì qua động tác thể hiện, người ta có thể phân biệt được đâu là dân cải lương mà đâu là dân tài tử : động tác của tài tử thì “thô sơ”, có sao làm vậy, còn động tác của nghệ sỹ cải lương thì có ít nhiều ước lệ trong đó, nên nó được thể hiện đúng mức và đẹp mắt, mang tính chuyên nghiệp.

Vì cái trọng tâm là biểu diễn, cho nên người nghệ sĩ cải lương không phải bận tâm học đầy đủ bài bản tổ, mà thường chỉ học ca cái gì cần thiết cho vai tuồng mà thôi. Ví dụ như bản Phụng Hoàng 12 câu, trong vai tuồng soạn giả chỉ viết có 4 câu, thì người nghệ sĩ đóng vai tuồng đó chỉ tập trung học ca bốn câu đó mà thôi.

Phụng Hoàng là bài bản khá quen thuộc nằm trong 20 bài bản tổ, nên dĩ nhiên nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp đều biết ca hết 12 câu, thế nhưng không phải ai cũng làu thông 20 bài bản tổ. “Làu thông” ở đây tức là hiểu rõ nhịp nhàng và ca đúng nhịp từ đầu đến cuối tất cả 20 mươi bài bản tổ.

Chưa hết, mỗi bài bản đều thể hiện một tâm trạng cụ thể. Có bài bản thể hiện sự bi ai tột cùng, có bài bản thể hiện sự đau khổ vừa phải, có bài bản thể hiện sự bi hùng, 9 Bach Hue 9có bài bản thể hiện sự tươi vui rộn rã…Trong từng bài bản, người ca phải làm sao sử dụng giọng ca thể hiện được tâm trạng cần thiết (đúng “cái thần” của bài bản) và đương nhiên cũng phải đúng nhịp nhàng.

Đây là một yêu cầu rất khó mà nếu không phải nghệ sỹ cải lương bậc thầy thì khó lòng đạt đến được. Bởi vậy, nhiều nghệ sĩ cải lương được gọi là chuyên nghiệp, nhất là trong giai đoạn ngày nay, chỉ đạt được một điều là ca đúng nhịp thôi chứ chưa đạt đến mức thể hiện được “cái thần” của bài bản. Trong khi đó, như đã nói, dân ca tài tử “đúng điệu” là phải đặt trọng tâm cho việc “ca”, vì thế họ tập trung thể hiện được “cái thần” của bản ca.

Như vậy, dù sinh ra và trưởng thành từ nơi thôn dã, nhưng Đờn ca tài tử thật sự là một nghệ thuật mang tính hàn lâm. Tức là, không phải khi ca tài tử là muốn ca thế nào thì ca, mà rất có khuôn phép, bài bản. Người ca phải ca làm sao cho đúng nhịp, đúng dây đờn. Hơn thế nữa, người ca phải hiểu được nét tinh túy của các bài bản tài tử, đó là: mỗi bài bản tài tử đều có ý thể hiện một tâm trạng cụ thể, đó là “cái thần” của Đờn ca tài tử.

Người ca tài tử được xem là “đúng điệu” không chỉ biết ca đúng nhịp, mà còn phải biết sử dụng giọng ca để thể hiện đúng tâm trạng, đúng “cái thần” mà bài bản đòi hỏi. 9 Bach Hue 5Nói cách khác là thể hiện tất cả những cung bậc tình cảm bằng giọng hát. Một nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp chưa chắc gì có nhịp nhàng và cách ca “chuẩn” như dân ca tài tử “đúng điệu”. Trên cơ sở đó, có thể nói rằng, người ca tài tử là những nghệ sĩ nhà nghề “chuyên trị” về “ca”. Đương nhiên, ở đây chỉ nói đến những dân ca tài tử “đúng điệu”, tức là những bậc thầy trong Đờn ca tài tử, chứ không nói đến Đờn ca tài tử đại trà trong quần chúng.

Có người cho rằng, chữ “tài tử” trong Đờn ca tài tử có nghĩa là “dân chơi không chuyên nghiệp”. Thế nhưng, qua những điều phân tích bên trên, ta thấy không thể hiểu như vậy. Còn nhớ cụ Trần Văn Khê thường nói, chữ “tài tử” phải mang ý nghĩa của câu “Dặp dìu tài tử giai nhân” như trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du.

Người ca tài tử là những bậc tài hoa, yêu thích môn nghệ thuật đờn ca Nam Bộ này, nhưng không phải lấy đó làm nghề để sinh nhai, mà lấy đó là một đam mê, một thú tiêu khiển không thể thiếu và sẵn sàng sống hết mình với thú tiêu khiển đó. Tức là, người ca tài tử lấy sự ca để nuôi dưỡng tinh thần và cũng biết “chết sống” với nó.

Có lẽ đó cũng là lý do mà tại sao danh ca Ngọc Bảo bên tân nhạc suốt đời ông chỉ thích xưng là “Tài tử Ngọc Bảo” chứ không phải là “Ca sĩ Ngọc Bảo” trong khi giọng ca Ngọc Bảo thuộc đẳng cấp bậc thầy trong dòng nhạc của ông.

NS Cao Van Lau 1Người ca tài tử “đúng điệu” không lấy tài tử làm kế sinh nhai còn có trình độ ca như vậy, thì huống gì là người lấy ca tài tử làm nghề, tức là ca tài tử chuyên nghiệp như Danh ca Bạch Huệ, thì trình độ ca còn “chuẩn” đến dường nào.

Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ

Bạch Huệ có giọng trong, có pha một chút khàn, là một giọng có thế mạnh để “ca mùi”. Tuy nhiên, điểm đặc trưng nhất trong giọng ca của Bạch Huệ đó là một giọng ca “đầy đặn”. Tiếng ca của Bạch Huệ rất khỏe. Thời gian gần đây, dù ở tuổi 80, Bạch Huệ vẫn ca “đầy đặn” như xưa. Nghe Bạch Huệ ca, người nghe không có cảm giác ráng hơi hay đuối hơi.

Bạch Huệ ca rất “tròn vành rõ chữ”. Nhiều danh ca tài tử và nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp cũng đạt được tiêu chí tròn vành rõ chữ, thế nhưng điểm đáng lưu ý là có một số người quá lạm dụng kỹ thuật để được tròn vành rõ chữ. Ca mà có kỹ thuật là điều cần thiết, nếu tập luyện đúng mức và áp dụng thỏa đáng kỹ thuật thì giọng ca sẽ trở nên đẳng cấp hơn.

Thế nhưng, nếu quá lạm dụng kỹ thuật hoặc tập luyện chưa đúng mức thì giọng ca sẽ trở nên «phô», mất tự nhiên và thiếu hồn. Có những nghệ sĩ bậc thầy vận dụng kỹ thuật một cách thượng thừa vào giọng ca nên đã tạo được nét riêng và giọng ca đã đứng vững trong lòng người mộ điệu mấy chục năm qua. 9 Bach Hue 7Bạch Huệ xếp trong số các nghệ sĩ thượng thừa này. Bạch Huệ ca tròn vành rõ chữ một cách hết sức tự nhiên và rất có hồn, người nghe không hề nhận ra được yếu tố kỹ thuật trong đó. Nói cách khác, Bạch Huệ đã đưa kỹ thuật vào giọng ca ở mức độ thượng thừa, để cho nó trở nên rất tự nhiên.

Một điểm thu hút nữa trong giọng ca Bạch Huệ : dù là bậc thầy về ca tài tử chuyên nghiệp, nhưng Bạch Huệ khi ca luôn tỏ ra cố gắng, đầy tâm huyết, gửi hết tâm hồn cho bài ca. Nhờ đó, mà trong tiếng ca mạnh mẽ của Bạch Huệ, người nghe cảm nhận được sự trân trọng của người ca đối với bài ca, cảm nhận được ở đó cả tâm hồn, cả trái tim của người ca. Và chính điều đó đã làm cho giọng ca Bạch Huệ thêm quyến rũ, làm cho người nghe muốn thưởng thức trọn vẹn bài ca.

Nói về nhịp nhàng, Bạch Huệ là “thợ sắp nhịp”. Tài sắp nhịp của Bạch Huệ thuộc hàng siêu đẳng, thuộc “đẳng cấp Út Trà Ôn”. Bạch Huệ không chỉ giữ nhịp trường canh để về đúng song lan chánh, mà còn là bậc thầy của việc xử lý nhịp ngay trong lòng bản. Giữ nhịp trong lòng bản cũng là một đặc trưng của dân tài tử bởi nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp khi ca thì thường chỉ giữ nhịp trường canh để về đúng song lan chánh mà thôi. Nhờ cách sắp nhịp đều cho các chữ, giữ đúng câu trong lòng bản, nên khi Bạch Huệ ca, người nghe luôn có cảm giác “yên tâm” không sợ cô rớt nhịp. Có thể nói, trong trường phái tạo được cảm giác “yên tâm” như vậy cho người nghe, Bạch Huệ là một bậc thầy.

Mấy chục năm qua, bản vọng cổ được sử dụng phổ biến nhất là vọng cổ nhịp 32, gồm 6 câu. Thế nhưng, dần dần người ta chỉ sử dụng 4 câu để rút ngắn thời gian của bài vọng cổ. Tuy nhiên, vọng cổ thoát thai từ Dạ cổ hoài lang có đủ loại : nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64… 6 Cai luong 1Và không có nhiều nghệ sĩ cải lương được gọi là chuyên nghiệp, đặc biệt là thế hệ nghệ sĩ trẻ ngày nay, ca được các loại vọng cổ không phải nhịp 32.

Thế nhưng, Bạch Huệ là người “chuyên trị” tất cả thể loại vọng cổ. Phải nói rằng, mỗi loại vọng cổ có cái hay riêng. Chẳng hạn như vọng cổ nhịp 4 mỗi câu rất ngắn, vì thế người nghe không có cảm giác chờ đợi, bởi vì vừa dứt câu này lại tới ngay câu khác. Đó có phải chăng cũng là một cách giúp người nghe giảm cảm giác “bị chán” ?

Đối với những bài bản không phải vọng cổ, thì ngoài 20 bài bản tổ còn có vô số bài bản tài tử khác. Gần 3/4 thế kỷ theo nghiệp ca tài tử, Bạch Huệ làm cho nhiều nghệ nhân ca tài tử và ngay cả nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp “kính nể”, vì cô ca sành điệu rất nhiều bài bản. Xin nhắc lại ca sành điệu ở đây tức là Bạch Huệ không chỉ ca đúng nhịp mà còn ca đúng “cái thần” của các bài bản. Điều đáng nói là nghe Bạch Huệ ca bất kỳ bài bản nào, người muốn học ca cảm thấy rất dễ theo dõi nhịp nhàng và có cảm giác dễ làm theo. Có lẽ vì thế mà Bạch Huệ đã là thầy dạy rất thành công của rất nhiều thế hệ học trò trong bộ môn Đờn ca tài tử.

Một điểm nổi bật nữa ở Bạch Huệ, mà chính điểm nổi bật này đã đưa Bạch Huệ lên một đẳng cập khó có người bì kịp. Trong nhiều sự khác biệt giữa cải lương và tài tử, nổi bật nhất đó là cách ca. Nghệ sĩ cải lương thường có cách ca “mướt” hơn dân tài tử, tức là nghệ sĩ cải lương có khuynh hướng ca “uốn éo, bay lượn, 9 Bach Hue 6điểm tô” giọng ca, còn dân tài tử thì giữ giọng ca theo lối “chân phương” không “hoa lá”.

Cái tính chân phương thuần túy này được thể hiện rất rõ trong cách ca tài tử theo kiểu xưa. Và một trong những cái dễ nhận biết nhất đối với dân tài tử là họ hay ca theo lối “hơ hơ”. Như Danh ca Tám Thưa, Cô Tư Sạng, Cô Năm Cần Thơ, Cô Ba Bến Tre, Chín Hòa, Tư Bé, Năm Phồi… những tay ca tài tử cự phách của miền Nam trước kia. Khi nghe những bậc tiền bối này ca, người nghe sẽ nhận ra ngay đó là ca theo lối tài tử kiểu xưa qua cách họ ca rất chân phương, lối hơ hơ rất đặc trưng của tài tử.

Thế nhưng, theo thời gian, Đờn ca tài tử cũng phải dần thay đổi. Cái lối ca tài tử theo kiểu xưa vì thế cũng dần được các thế hệ sau cách tân. Bạch Huệ gắn bó với Đờn ca tài tử từ những ngày lối ca tài tử theo kiểu xưa còn được yêu mến đến khi nó dần được thay đổi để phù hợp với thời đại. Giọng ca Bạch Huệ là một minh chứng rõ nét nhất cho sự cách tân này. Ta thấy rằng, ca mà chỉ có “chân phương” thì có lẽ hợp với đời xưa hơn, và chọn lọc người nghe hơn, còn nếu như ca mà uốn éo, lạng bẻ quá mức thì cũng làm mất cái thần của tài tử. Bởi vì nên nhớ rằng, ca tài tử rất trọng cái “chân phương”. Chỉ có điều ca tài tử theo lối xưa quá thiên về tính chân phương, còn nhiều nghệ sĩ cải lương, nhất là thế hệ ngày nay, thì lại lạm dụng cái “hoa lá”.

Bạch Huệ đã biết chan hòa đúng mức cái “chân phương” và “hoa lá” trong giọng ca. Và đương nhiên, Bạch Huệ ca “chân phương” nhiều hơn “hoa lá”, nhưng cô đã biết đưa cái “hoa lá” một lượng vừa đủ để cho giọng ca mượt mà hơn, “thời đại” hơn. Tức là, khi nghe Bạch Huệ ca, người nghe cảm nhận được đó là ca theo lối tài tử nhưng vẫn có sự mượt mà vừa phải. Bởi thế mà giọng ca Bạch Huệ giữ được nét chân phương của tài tử xưa nhưng cũng có nét “thời đại”, vì thế mà thu hút được người mộ điệu cả bên tài tử lẫn cải lương.

Nếu Danh ca Minh Chí nổi tiếng là “Vua” ca bài Xàng Xê, thì Bạch Huệ cũng nổi tiếng là người ca tuyệt vời hơi Oán. Hồi đầu những thập niên 1990, khi phong trào Đờn ca tài tử bắt đầu được phục hồi, Bạch Huệ, Công Thành và Tấn Đạt đã tạo ra một “tam tuyệt” 9 Cai luong 1trong bài “Bùi Kiệm – Nguyệt Nga” theo điệu Tứ Đại Oán trong đó Bạch Huệ vai Nguyệt Nga, Tấn Đạt vai Bùi Kiệm và Công Thành vai Bùi Ông. Ba người ca bài này theo lối tài tử Nam Bộ một cách xuất thần : Chững chạc trong giọng ca, chuẩn mực trong nhịp nhàng, chuẩn xác trong việc thể hiện cái thần của bài Tứ Đại Oán.

Có một điểm đặc biệt nữa mà không thể nào không nhắc đến khi bàn về tài ca của Bạch Huệ, đó là: Bạch Huệ có thể được xem là người ca hay nhất bài Dạ Cổ Hoài Lang của cụ Cao Văn Lầu. Đây là bài ca ra đời trong bối cảnh nông thôn Nam Bộ, nói lên nỗi lòng của người vợ quê mùa đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng ngoài biên ải (Dạ cổ hoài lang tức là: Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng).

Nếu vọng cổ là bài bản “vua” của cả hai bên tài tử và cải lương, thì Dạ cổ hoài lang là bài bản tổ của bản vọng cổ. Trong bài Dạ cổ hoài lang mang tính chân phương, nhưng cũng có chút hoa lá lãng mạn. Bởi vậy mà ca bài này chân phương quá thì 9 Bach Hue 10“khô” mà hoa lá quá thì “ướt”. Và giọng ca Bạch Huệ hoàn toàn phù hợp với bài Dạ Cổ Hoài Lang.

Nghe Bạch Huệ ca Dạ cổ hoài lang, người nghe cảm nhận được cái không khí xa xưa, cái u buồn man mác của người vợ nhớ chồng. Nghe Bạch Huệ ca Dạ cổ hoài lang, người nghe cảm nhận được một sự nhớ thương trĩu nặng tâm hồn của người vợ quê nhà mong chồng ngoài vạn lý. Tuy nhiên, giọng ca Bạch Huệ mang đến một cảm giác không quá bi lụy mà có chút gì đó lãng mạn, một niềm hy vọng sum vầy. Đúng như tâm trạng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu khi viết bài này vì khi đó ông đang trong cảnh xa vợ và mong chờ đoàn tụ. Đến hiện tại, chưa thấy có người nào ca Dạ cổ hoài lang đạt đến trình độ như Bạch Huệ.

Ngoài việc đóng góp bằng giọng ca, Bạch Huệ mấy chục năm qua còn được biết đến là người góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho Đờn ca tài tử và cải lương. Bạch Huệ được mời dạy ca cho các lớp đào tạo nghệ sỹ cải lương chuyên nghiệp ở Trường Sân Khấu Điện Ảnh ở Sài Gòn. CTr cai luongác tỉnh cũng thi nhau mời Bạch Huệ tham gia các lớp đào tạo ca tài tử. Ngoài ra, Bạch Huệ cũng là một “giám khảo thường trực” của các chương trình giao lưu Đờn ca tài tử ở khắp nơi suốt mấy thập niên qua.

Trong xã hội Việt Nam hiện tại, ít người trẻ tuổi yêu thích Đờn ca tài tử, mà một trong những nguyên nhân chính đó là do chưa hiểu được tinh hoa của bộ môn nghệ thuật này. Và như Giáo Sư Trần Văn Khê từng nói rằng : Hãy tìm hiểu đi rồi sẽ thấy thích. Bạch Huệ đóng góp bằng cả cuộc đời cho nghệ thuật Đờn ca tài tử. Những năm tuổi trên 70, Bạch Huệ vẫn rày đây mai đó ca tài tử. Bạch Huệ đóng góp rất lớn cho việc quảng bá tinh hoa của Đờn ca tài tử.

Một điểm đáng quý nữa đó là, các nghệ sĩ cải lương khi nổi tiếng thì kiếm được rất nhiều tiền, chứ còn bên tài tử thì ngược lại. Dù là không kiếm được nhiều tiền, nhưng Bạch Huệ vẫn theo đuổi cái nghiệp Đờn ca tài tử suốt 70 năm với bao nỗi thăng trầm, để khi tuổi vượt hàng “thất thập cổ lai hy”, dù đi ca suốt, nhưng vẫn sống trong cảnh khổ nghèo. Tấm lòng yêu nghề này của Bạch Huệ thật đáng trân trọng.

HNg Huynh V. Yen 3Năm 2007, Bạch Huệ được nhà nước phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”. Ngày 12/10/2013, Bạch Huệ đã về với tổ nghiệp. Sự ra đi của cô có thể được xem là sự ra đi của “Cây đại thụ cuối cùng” của làng Đờn ca tài tử Nam Bộ. Gần 3/4 thế kỷ góp phần bảo tồn và phát triển Đờn ca tài tử, với tài năng đó và với đẳng cấp đó, Bạch Huệ xứng đáng được xem là “Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ”.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo phiem

Con gai 4NÂNG CẤP Ô SIN

“Sao các đại gia không vào hành lang bệnh viện mà tìm tình một đêm ? Năm trăm đô, hai trăm đô cũng được. Tôi cao 1m68, ba vòng đủ chuẩn, mặt xinh, da trắng. Tôi sẽ bán tôi ngay để đủ tiền phẫu thuật cho mẹ…

Chương một

Đã một tuần ăn chực nằm chờ trong bệnh viện, nhưng tôi vẫn không thể nào thích nghi được với không khí ở đây. Từ khoa điều trị của mẹ muốn xuống căng tin phải đi qua lối vào nhà xác. Mỗi lần hai mẹ con dìu nhau đi, tôi cứ phải cố dấn bước cho nhanh và mắt nhìn thẳng tắp. Để bảo vệ chút mạnh mẽ còn lại mà không đổ gục.

Nhà tôi, mẹ góa con côi, nếu tôi cũng quỵ, sẽ chẳng còn ai làm chỗ dựa cho mẹ. Hết một tuần, tất cả kết quả xét nghiệm đều đi đến chung một kết luận : Khối u của mẹ lành tính nhưng bắt buộc phải phẫu thuật. Nỗi vui mừng chưa kịp nhen nhóm thì số tiền dự tính phải chi trả đã tàn bạo bóp nghẹt trái tim tôi lần nữa.

Tôi có bán răng, bán tóc, bán máu, bán cả nhà cũng không thể đủ một nửa con số trăm triệu đồng. Huy động tất cả người thân, Benh vien 1bạn bè quen biết được vỏn vẹn hai chục triệu. Cây vàng mẹ định để dành làm của hồi môn cho tôi phải bán đúng lúc giá chạm đáy cũng chỉ gom thêm được bốn chục triệu nữa. Con số sáu mươi triệu đồng còn lại cứ như cái thòng lọng treo lơ lửng trên đầu tôi. Không có nó, mẹ không thể phẫu thuật được. Thời gian càng kéo dài, xác suất an toàn sẽ càng giảm.

Chưa bao giờ tôi lâm vào tình trạng quẫn trí như lúc này. Sao các đại gia không vào hành lang bệnh viện mà tìm tình một đêm ? Năm trăm đô, hai trăm đô cũng được. Tôi cao 1m68, ba vòng đủ chuẩn, mặt xinh, da trắng. Tôi sẽ bán tôi ngay để đủ tiền phẫu thuật cho mẹ.

oOo

Mỗi buổi sáng, bác sĩ điều trị cho mẹ đi qua thăm khám đều hỏi han về tình hình chuẩn bị của chúng tôi. Tôi chưa bao giờ khóc trước mặt bác sĩ, nhưng sắc mặt tôi trông còn thảm hơn cả khóc, nên bao giờ anh cũng ái ngại quay đi. Phòng bệnh của mẹ có mười hai người, chen chúc trong sáu cái giường cá nhân.

Buổi sáng hôm thứ sáu, bác sĩ điều trị của mẹ đi vào, mang theo mười hai cái phong bì, bảo là của các nhà hảo tâm gửi tặng. Mười một cái đều chỉ có một triệu đồng, riêng cái của mẹ tôi là năm triệu đồng, kèm theo tín hiệu “bí mật”. Có nhiều tiếng khóc cùng lúc sụt sùi. Bác sĩ thấy ngại sao đó mà đi ra ngay, còn bảo tôi cuối giờ lên khoa gặp.

Con gai 7Ai đã từng vào chăm bệnh nhân trong viện mới cảm nhận được hết cái thấp thỏm trong câu hẹn gặp với bác sĩ. Thường là vì tình trạng bệnh tiến triển không tốt bác sĩ điều trị mới phải gặp riêng người nhà. Cũng có khi vì phí điều trị tự nhiên lại đội lên quá cao. Với người giàu mà nói, đây không phải là khó khăn gì ghê gớm. Nhưng với dân nghèo như chúng tôi, mức độ sát thương của nó như các cư dân mạng hay nói, đúng là “vô đối”.

Cho nên, suốt cả ngày hôm ấy tôi hết đi ra lại đi vào, giơ tay xem đồng hồ liên tục, đến mức chính mẹ cũng bị lây cảm giác căng thẳng. Khi kim giờ chỉ đúng số năm, tôi lao như tên bắn qua hành lang bệnh viện. Ngồi trong phòng của anh rồi, hơi thở vẫn chưa điều hòa nổi, lòng bàn tay tôi túa mồ hôi lạnh toát.

Không có tiên liệu xấu nào cả. Anh chỉ cho tôi thêm một con đường sống. Tôi phải cấp tốc mua bảo hiểm cho mẹ, trước thời gian phẫu thuật. Anh thậm chí còn giới thiệu người có thể giúp tôi đẩy nhanh và hợp thức hóa các thủ tục. Tôi trào nước mắt cám ơn. Anh lại lúng túng : Cũng không giúp được gì nhiều đâu, vì ca mổ của mẹ em là tự nguyện, nên bảo hiểm chỉ trả giúp một phần viện phí. Giảm được khoảng 20% tổng chi phí là cùng ! Tôi lẩm nhẩm trong óc, 20% của 120 triệu nghĩa là hơn hai chục triệu. Nghĩa là nỗi lo của tôi giảm xuống chỉ còn hơn ba chục triệu nữa thôi. Một triệu đồng lúc này cũng quý, nói gì đến hơn hai chục triệu.

Nhưng một tuần sau đó tôi vẫn không biết làm cách nào để xoay ra hơn ba chục triệu đồng. Túng quá hóa liều. Tôi một lần nữa gõ cửa phòng bác sĩ điều trị chính. Trong tay là một hợp đồng đã soạn sẵn, ký sẵn. Tôi mạo muội đề nghị anh bảo lãnh cho ca mổ của mẹ tôi. Tôi biết điều này là bất khả thi. Tr Bac si 7Trong bệnh viện lúc nào cũng có người nghèo. Mạng ai cũng quý. Ai cũng muốn nhờ bác sĩ bảo lãnh. Mà bác sĩ thì không là thánh.

Nhưng tôi có một niềm tin mơ hồ : Hình như anh để ý đến tôi. Có để ý mới đưa phong bì dày hơn những người khác. Có để ý mới nói giúp việc làm bảo hiểm, không bác sĩ nào rỗi hơi lại đi mách bệnh nhân cách lách luật rắc rối và có phần trái quy tắc như vậy ? Trong hợp đồng thảo sẵn, tôi đề nghị làm giúp việc không công cho gia đình bác sĩ trong 3 năm, bảy ngày trên tuần, ba giờ mỗi ngày. Không ngờ, anh nhìn tờ giấy rồi cười, đẩy lại phía tôi không nói gì. Cuống quá, tôi nói thẳng tưng mà không hề đỏ mặt : Hay là anh mua em đi, toàn quyền sử dụng trong một năm. Em cam tâm tình nguyện !

Lần này, anh đơ ra một lúc, mặt đỏ bừng. Tôi gần như tuyệt vọng, thiếu chút nữa thì nằm lăn ra phòng anh ăn vạ. Một lúc sau anh bảo tôi chuẩn bị, thứ ba sẽ mổ cho mẹ. Tôi gần như bay ra khỏi phòng anh, bất chấp nỗi ê chề bán thân vô tiền khoáng hậu kia. Trước mắt tôi chỉ còn viễn cảnh mẹ sẽ được phẫu thật, sẽ khỏi bệnh, khỏe mạnh trở lại. Tôi làm gì còn người thân nào khác trên đời này!

Ca phẫu thuật của mẹ rất thành công. Lúc này tâm trí tôi mới trở lại trạng thái bình thường. Nghĩ đến cái hợp đồng vẫn bỏ lại trong phòng anh, không khỏi ngượng ngùng. Nhưng mãi vẫn không thấy khổ chủ đòi nợ. Gần ngày mẹ ra viện, tôi lần nữa vác mặt mo đi đề nghị người ta “nghiệm thu” mình.

Chương hai

Tôi ngoài ba mươi tuổi. Bác sĩ của một bệnh viện lớn. Độc thân nhưng hình như không có duyên lắm với phụ nữ. Benh vien 2Lần đầu nhìn thấy em đã rung rinh. Em rất đẹp, lại hiếu thuận. Chăm chút mẹ từng li từng tí. Làm việc trong bệnh viện lâu rồi, tôi đã chứng kiến không ít cảnh các ông bố bà mẹ cô đơn vò võ điều trị nội trú, toàn bộ việc chăm sóc phó mặc cả cho điều dưỡng viên, con cái một tuần tới điểm danh một lần đã là nhiều.

Thế nên, hình ảnh của em ngày ngày chăm chút mẹ tận tâm tận lực lại khiến tôi để tâm. Mẹ em phải phẫu thuật, lần lữa mãi mà không thu xếp đủ tiền, tôi cũng có chút động lòng. Mẹ tôi năm nay ngoài bảy mươi tuổi. Bố tôi mất đã năm năm, sở thích còn lại duy nhất của bà là chăm tôi và làm từ thiện. Lương hưu của bà không đáng là bao, ngày ngày bà may áo, đan len, rồi cứ gom lại từng tí một, thành một chục là hớn hở mang cho trẻ con nghèo.

Trước đây, mẹ cũng hay mang vào viện tôi nhưng từ khi tôi bảo: Bệnh nhân thường họ không thiếu mấy thứ mẹ cho, cái họ thiếu nhất là tiền, thế là mẹ chuyển mục tiêu sang mấy xã ngoại thành và các xã vùng núi theo chường trình của Hội Chữ thập đỏ. Gần đây, mẹ vận động được cả các cô chú và bạn bè ở nước ngoài gửi tiền về làm từ thiện, thỉnh thoảng được một cục, Osinmẹ lại tất tả đem cho.

Tháng trước, mẹ đi đường bị xe tông gãy chân, thế là phải nằm một chỗ, không đi lại được. Cục tiền của mẹ, tôi phải làm nhiệm vụ mang vào viện phân phát. Thực lòng, tôi không quen làm việc này nhưng trước sức ép của mẹ, đành chia ra các phần bằng nhau, đem chia cho phòng điều trị của mình, năm phút là xong. Riêng phong bì của mẹ em, tôi cố tình nhét thêm bốn triệu đồng. Cũng như muối bỏ bể mà thôi!

Tôi chưa bao giờ tưởng tượng được em lại đề nghị “bán mình” cho tôi với cái giá như vậy. Nhất thời không biết phản ứng thế nào nên cứ ngồi ngậm hột thị. Nhìn gương mặt tuyệt vọng của em, tôi biết mình chẳng còn lựa chọn nào khác. Thế là rút tiền túi ra giúp bệnh nhân. Cũng chẳng phải vì lòng tốt như mẹ tôi, mà là vào cái thế không thể rút chân ra được nữa.

Ngày mẹ em ra viện, em lần nữa nhắc lại chuyện phải “thanh toán” hợp đồng. Tôi lại lần nữa bị ép phải nói rằng : “Cứ coi như nợ anh, khi nào có tiền thì trả !”. Không ngờ em “chốt hạ” ngay : Thế này vậy, SG My Nhan 3nếu anh đã chê em thì làm theo phương án thứ nhất đi ! Em biết mẹ anh đang ốm, cũng cần người giúp đỡ. Từ tuần sau, sau giờ làm em sẽ đến nhà anh giúp việc nhà. Em biết địa chỉ rồi, anh đừng ngại !

Em làm Ôsin cho nhà tôi được đúng sáu tháng thì mẹ tôi một hai đòi nâng cấp em làm con dâu. Đến nước này tôi mà còn vờ vịt lập topic “có nên siết nợ bằng cách cưới con nợ hay không ?” thì thật nhảm !!!

Mỹ Nhàn chuyển tiếp