SỰ KIỆN QUANH TA (2)

Logo van de

9 Thay toi 1KIẾN THỨC HAY NHÂN CÁCH ?!

THẦY TÔI,

TỪ MỘT GÓC VĨA HÈ BÌNH DỊ

Ở một góc Lữ Gia – Nhà Thờ hầm cách nay nhiều năm, thầy Cù An Hưng lúc không có giờ dạy học thường ghé sạp bán báo của tôi. Lúc đó tôi bán báo để kiếm sống, còn thầy ghé chỗ tôi để sống với tình yêu lớn của đời thầy: Tình yêu thi ca.

Có lần Thầy Cù An Hưng kể với chất giọng Bắc nhỏ tiếng nhưng âm vực rất vang. Và câu chuyện thầy kể cũng chỉ để kể, không nhằm tìm tới chuyện truyền đạt kiểu ôn cố tri tân nào. “Bọn chúng tôi, hồi ấy, dạy ở trường tư thục Trường Sơn. Mà này, cậu phải biết là các thầy người Bắc di cư có công mở trường tư ở trong này. Bọn chúng tôi dạy toán, các anh Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ… dạy văn. Giờ giải lao, cùng là giáo sư, ngồi chung một phòng giáo sư, suốt chừng ấy năm chúng tôi chưa từng vô lễ bước qua bàn các anh ấy. Thường là ngồi bên này cung kính trân trọng lắng nghe các anh ấy nói về văn chương. Được nghe văn chương từ các anh ấy là ý thức mình gieo mở hạnh phúc và tìm thấy tự do.”

Tr Thay tro 3Sau này, thầy không kể thêm câu chuyện nào nữa về các vị văn gia lớn đó, nhưng ý nghĩa từ mẩu chuyện của thầy cho tôi một niềm tin rõ ràng rằng các vị viết văn ngày nay không được trân trọng như đáng ra họ phải được, không được trân trọng vì lẽ các nhà văn ngày nay không nhận thức được việc chính mình phải tự trọng trong ý thức tôn trọng văn chương hơn là mong đợi ở xã hội.

Lần khác tôi được chứng kiến sự trân trọng của thầy ở một giới quan hệ xã hội khác. Sạp báo của tôi kê bên cạnh một tiệm phở, tiệm phở này có mùi vị của hủ tíu bò, trong khi thầy là người Bắc. Trong nhiều năm đến chỗ tôi thầy chưa bao giờ thử ăn qua phở Nam, dù quán phở này bán khá đắt khách. Sạp báo tôi chỉ có một cái ghế nhựa thấp, lần nào thầy đến, cô chủ quán phở cũng bước ra cầm theo cái ghế nhựa loại có chỗ tựa lưng để mời thầy ngồi, và lần nào thầy cũng nói cám ơn cô.

Tiếng cám ơn trân trọng vì chuyện mượn một cái ghế được một ông thầy dạy đại học nói với cô bán phở chưa học qua lớp 5, và được lập đi lập lại không một lần quên trong suốt nhiều năm. Những hôm cô bán đắt hàng không kịp nhận ra thầy mới ghé, thầy bước đến gần cô chủ quán hỏi mượn cái ghế, cô chủ quán nhiều khi chỉ gật đầu với thầy nhưng lúc nào thầy cũng nói cám ơn trước khi cầm cái ghế. Có nhiều hôm tôi thấy cái dáng sang trọng với y phục chỉnh tề của một vị thầy đứng thật lâu chỗ cô đang nấu phở, những hôm như vậy tôi biết là cô bán phở lu bu chưa nói tiếng dạ, hoặc chưa gật đầu với thầy về chuyện mượn cái ghế.

9 Thay toi 2Tôi sẽ không nói sâu về văn chương, thi ca và những giá trị lớn của văn học… Tôi chỉ muốn nói qua những mẩu chuyện bình dị tôi nhận từ thầy và tôi được có tấm gương lớn để luôn soi cá nhân mình vào người khác bằng cả sự trân trọng. Sẽ là vu vơ khi nói về tính tự trọng của con người mà không nhìn thấy cá tính cao quí đó, của bất kỳ ai. Tính tự trọng của một người chỉ sáng rõ khi phẩm chất họ và những quyền cơ bản của họ được người khác và cộng đồng trân trọng. Với thầy, thầy không đặt điều kiện ai đó lúc giao tiếp với thầy có đủ tự trọng hay không, thầy chỉ giữ chuẩn mực ứng xử, trân-trọng-cám-ơn những người mà mình sống chung đụng hàng ngày giữa đời thường.

Gặp những ngày trong tiết tháng tám âm, trời Sài Gòn thường mưa nhỏ rả rích. Những hôm như vậy, cây dù che sạp báo của tôi không thể phủ được để thầy khỏi ướt, tuy nhiên không vì ngày mưa mà vắng bóng các ông, các bà mà tôi không biết mặt biết tên tắp xe gắn máy vào chỗ sạp báo. Họ không phải ghé để mua báo, họ ghé vô chỉ để cúi đầu thưa thầy Cù An Hưng. Có lần thầy nói với tôi. “Tôi trông họ già hơn cả tôi nữa đấy phải không cậu. Cậu nhìn lại tôi xem nào, có già đến thế không nào !”

Lần khác thì thầy lại nói. “May đấy cậu ạ. Các anh, các chị ấy mà dừng lại hỏi chuyện lâu, phát hiện tôi không nhớ được tên các anh chị ấy, thế là thất lễ !”

Lúc di cư vào Sài Gòn thầy mới là một học sinh trung học, nhưng không lâu thầy đã bắt đầu cuộc đời dạy học. Thời đó có nhiều người học muộn, riêng thầy thì nhảy lớp ở bậc trung học nên lúc đứng trên bục giảng đại học thầy chỉ mới hai mốt tuổi. Thầy tự bỏ nhiều cơ hội mà thế giới trí thức dành cho thầy, để chọn nghề dạy học, viết sách . Thầy nói, nỗi buồn lớn của thầy là phụ lòng kỳ vọng những bậc thầy truyền đạt tình yêu toán và muốn thầy theo đuổi chuyên sâu toán học. Nhưng có một nỗi buồn da diết mà tôi cảm nhận được ở thầy, 9 Thay toi 3đó là việc thầy không dành tuổi xuân cho tình yêu văn chương-thi ca. Với thầy, tình yêu này là thứ báu vật đồng hành với quả tim trong ngực con người mà thượng đế đã ban tặng.

Chọn nghề dạy học, có nghĩa thầy đã đi vào trọn vẹn dòng sông lớn nhất, nơi người thầy như những con tàu chở bản năng con người vươn tới sóng gió trí thức, ánh sáng nhân cách, nơi mỗi người học trò là một thuỷ thủ, mỗi người thầy là một người thuyền trưởng, cùng chia sẻ nhiều lần cái chết bản năng trong những đại dương bất trắc để phục sinh ý thức đúng tầm vóc văn minh Người.

Tôi không biết nhiều về chuẩn mực quan hệ thầy trò của các bậc trí thức được ví như kỳ lân – phượng hoàng của thế hệ trí thức lớn Sài Gòn trước biến cố 1975, nhưng với thế hệ thầy Cù An Hưng và lớp kế cận thầy trước những năm 1975 thì tôi có biết qua. Ở sạp báo tôi ngày ấy có một người học trò của thầy Cù An Hưng. Ông thỉnh thoảng đến và dừng lại với thầy lâu hơn những người khác. Ông đi một chiếc xe Honda cũ, dáng người thấp bé và tóc đã bạc trắng đầu. Ông không còn dạy học nữa nhưng, lần nào cũng vậy, ông đến chỉ để kể về học trò của ông cho thầy Cù An Hưng nghe. Giữa đời sống đô thị trùng trùng cấu thành và trùng trùng tàn lụi này, hai vị thầy nhắc cho nhau nhớ về học trò. Tôi không biết những người từng thụ hưởng sự giáo huấn của hai thầy này ngày nay tồn tại nơi đâu ! Tôi chỉ biết là những lúc ấy hai gương mặt thầy giáo già hiện ra một vẻ đượm buồn.

Tôi không coi cái tình trạng u ẩn buồn đó là hào quang nhưng, với tôi, nỗi buồn đang toả ra của hai vị thầy thật sự là thứ ánh sáng của đời sống ký ức dạy học mà từng mạch cảm xúc buồn đó đang soi tìm lớp lớp học trò cũ của mình. Tr Thay tro 2Trong biển quên lãng mịt mùng, không một vị thầy nào để thất lạc học trò mà chỉ có những người học trò phủ phàng thổi tắt trong lòng thầy ánh sáng hy vọng.

Tôi thường tự hỏi : Sau rốt, cái bài học lớn nhất mà một người thầy muốn truyền đạt cho một người học trò là kiến thức hay nhân cách ? Trong thời buổi kinh tế thị trường này người ta mua bán giáo dục mà không thừa nhận rằng hệ thống giáo dục đang là một tổng công ty kinh doanh. Người ta cứ gào lên cứ hầm hè về chuyện : Thầy phải ra thầy, trò phải ra trò, phải tôn sư trọng đạo… Biết bao nhiêu là châm ngôn giáo dục cao quí đang bị thực tế mua bán giáo dục biến thành những khẩu hiệu lố bịch.

Quan điểm của tôi : Kiến thức là phải mua, mua bằng tiền của chính mình hay bằng tiền mình đóng thuế cho ngân sách giáo dục, tất cả đều là tiền mua kiến thức cả. Hãy minh bạch để mọi người học trò biết rằng họ đã trả tiền để có kiến thức và họ phải có trách nhiệm trong suốt quá trình mua kiến thức của mình. Ngay cả với các vị thầy cũng xin đừng khiên cưỡng hoặc tự dối mình rằng đang ban tặng vô vụ lợi kiến thức. Tôi tin là để kiếm sống và làm rạng rỡ đời sống của mình, một cá nhân phải mua kiến thức làm phương tiện lớn. Nhưng để hoàn thành NGƯỜI trước vạn vật, chỉ có các vị THẦY mới có thể tạo ra được con đường cao cả truyền đạt phẩm chất- nhân cách. Và đó là con đường duy nhất không bao gồm sự trao đổi phẩm lượng của cải vật chất, mà lại là con đường duy nhất bao gồm cái toàn thể cái cao cả của ân phước làm NGƯỜI.

Thầy Cù An Hưng bao giờ cũng tự hào về chuyện thầy dạy thêm và bổn phận cùng trách nhiệm trao kiến thức cho học trò đóng tiền để được học. Có hôm, từ trung tâm dạy thêm, thầy đến thẳng chỗ tôi, tay thầy còn đầy bụi phấn. Hng Ng Van Danh 5Sạp báo bên lề đường vào giờ trưa nắng gắt làm cho thầy khó thở nhưng thầy vẫn không ngừng nói về văn học và thi ca. Thầy làm thơ và dịch thơ, nhưng bao giờ thầy cũng chỉ nhận mình là người đọc thơ.

Tôi xin viết hoa hai chữ ĐỌC THƠ, vì chỉ như thế mới tả đúng lòng kiêu hãnh của thầy và sự kính phục của tôi về việc thầy ĐỌC THƠ. Tôi biết chắc là mình không thể biết đầy đủ tình yêu của thầy dành cho thi ca, bởi tình yêu thi ca của thầy là hàng vạn cánh cửa, nơi hàng ngày, hàng đêm mở ra trong suốt đời thầy một không gian tinh khiết, luôn luôn lộng lẫy sức nóng của lửa thiêng. (theo Trần Tiến Dũng)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

9 Thang an cap 1THẰNG ĂN CẮP !

Ở một làng nào đó bên xứ Ấn Độ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người lâu ngày, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đà xế bóng, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng mỏi mòn.  Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương.

Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi.  Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nước mát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân.  Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.

Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngang qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. 9 Thang an cap 2Lễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa.

Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm : “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.”

Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói :

– Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta.

Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con :

– Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. 9 Thang an cap 3Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh.  Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!

Bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại.

Người thương gia rảo bước về gần đến làng, nhìn xa xa ráng chiều êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách. Vừa đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa.  Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu :

– Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay !  Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi ! Khổ thân tôi chưa !

Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên. Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh, bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi :

– Túi đồ của tôi đâu ? Vàng của tôi đâu ?

Cụ già ngạc nhiên :

– Túi đồ nào của bác ? Vàng nào của bác ?

– Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này !

9 Thang an cap 4Cụ già vẫn bình thản :

– Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao ?

Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.

Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gió đưa, biết đâu là bờ bến mà tìm ! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng, giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bảng đen, với hàng chữ trắng viết to : “Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”

Người thương gia mừng quýnh đập cửa, gặp anh nông dân ra mở hỏ i:

– Bác là chủ túi đồ bỏ quên trong chùa ?

– Vâng, chính tôi. Tôi đã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.

– Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào ? Trong đựng những gì ?

9 Lang queNgười thương gia trả lời :

– Ðó là túi vải, trong đựng một ít lương khô đi đường.

Người nông phu nói :

– Thế thì không phải túi đồ của bác.

– Thú thật với bác, cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.

Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia :

– Quả thật đó là túi đồ của bác. Xin mời vào nhận.

Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:

– Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.

9 Thang an cap 5Người nông dân ngạc nhiên :

– Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường, có ơn gì mà được đền ?

– Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.

– Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần ? Thôi, xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.

Người thương gia không còn lý lẽ gì để nói thêm bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất gói vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy. Ý định của ông ta là bắt buộc bác nông dân phải nhận sự đền ơn, nhưng bác vội nhặt gói vàng rồi đuổi theo, miệng hô hoán:

– Bớ người ta, thằng ăn cắp ! Bắt lấy thằng ăn cắp.

Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt bác nông dân, hỏ i:

– Hắn đã ăn cắp vật gì của bác ?

HNg Huynh V. Yen 3– Hắn định ăn cắp cái tâm công chính và chân thật mà tôi có được từ ngày tôi học Phật !

Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện chỉ do tư lợi, làm việc nước cốt vì quyền hành địa vị… thảy đều không hiểu chuyện nầy !!

(Chưa biết tên người kể. Bớ người ta!  Bắt giùm tôi người kể chuyện này, để tôi kính lễ tri ân bài học “Ngàn Vàng” cho mọi người) 

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 RuouNHỮNG Ý NGHĨA

MÀ CÁC THI SĨ

TÌM THẤY Ở RƯỢU

Một trà, một rượu, một đàn bà 

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta 

Chừa được cái gì hay cái nấy 

Có chăng chừa rượu với chừa trà !

Có thể coi mấy câu thơ ấy của Tú Xương là một cách hiểu phổ biến về rượu trong các nhà thơ cổ, từ thế kỷ XX về trước. Uống thì các vị vẫn uống, rồi lại liền ngay đấy cười cợt chế giễu cái sự ham hố buông thả của mình. (Say sưa nghĩ cũng hư được / Hư thời hư vậy, say thời cứ say – Tản Đà). Bảo các vị đạo đức giả e hơi quá ! Chẳng qua thời buổi bấy giờ buộc người ta phải thế, phải ra mặt áp chế những ham muốn của mình, phải yên phận sống trong đạm bạc, khổ hạnh. Và để sống tự nhiên mà vẫn tận hưởng mọi niềm vui trần thế, người ta chỉ có cách phân thân nói một đàng làm một nẻo.

Nhưng cũng ngay từ thời phong kiến, trong thâm tâm nhiều thi sĩ rượu đã là một cái gì tốt đẹp hơn nhiều. Rượu là sinh thú của cuộc đời. Là niềm hoan lạc. Tu Xuong 1Là lý do khiến cho đời đáng sống, cũng tức là cái kỷ niệm còn sót lại của một linh hồn sau quãng đời trầm luân, khổ ải. Về phương diện này, bài thơ sau đây (mà tương truyền là của Phạm Thái) đã là một thứ tuyên ngôn :

Sống ở dương gian đánh chén nhè

Thác về âm phủ cắp kè kè

Diêm Vương phán hỏi mang gì đấy

– Be !

Bước sang thời hiện đại, các thú lăng nhăng ngày một nhiều, song đóng vai trò chủ đạo, vẫn là ba món Tú Xương đáng kể và rượu rõ ra là một món vừa thông dụng, vừa cao quý. Trong số các thi sĩ Việt Nam, Tản Đà có lẽ gần với Lý Bạch hơn cả. Với ông, rượu là bè bạn, là môi sinh. Ông ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, viết báo khi say và tiếp khách ở toà soạn bằng cách mua thức nhắm về làm với nhau một bữa rượu. Vậy mà ông vẫn viết đều đều, sức vóc ông trong nghề viết là sức vóc một đại lực sĩ, ngoài thơ – truyện, ký ông viết cũng tài, mà làm báo cũng một tay bợm ! Những bài thơ sảng khoái ca tụng rượu nhiều lần xuất hiện dưới ngòi bút Tản Đà đánh dấu thời kỳ người ta không còn cảm thấy tội lỗi khi hưởng thụ, cũng không phải phân thân nói một đàng làm một nẻo nữa. Có điều thú vị là tự mình uống nhiều đã đành. Tản Đà còn muốn mọi người cùng uống :

Tan DaYêu cầu cho khắp mọi nhà,

Rượu ty bãi hết rượu ta cất tràn.

Tránh cho dân nỗi lầm than,

Bã chôn, men giấu, nhà đoan phạt bừa.

Tha hồ rượu sớm trà trưa,

Nghiêng chai dốc chén say sưa tối ngày.

Lưu Trọng Lư, rượu tượng trưng cho cuộc sống phóng túng của một lãng tử. Trong bài thơ nổi tiếng mang tên Giang hồ có tới mấy lần ông nhắc đến rượu mà lần nào cũng chứa chan tình cảm :

Mời anh cạn hết chén này, 

Luu Trong Lu 2Trăng vàng ở cuối non Tây ngậm buồn. 

Tiếng gà đã rộn trong thôn, 

Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay. 

Để lòng với rượu cùng say, 

Chừ đây lời nói chua cay lạ thường ! 

Chừ đây đêm hãy đầy sương, 

Con thuyền còn buộc, trăng buông lạnh lùng ! 

Chừ đây trăng nước não nùng, 

Chừ đây hoa cỏ bên sông rũ buồn.

Tiếng gà lại rộn trong thôn… 

Khoan đừng tơ tưởng vợ con ở nhà.

Tran Huyen TranGiờ này còn của đôi ta, 

Giang hồ rượu ấy còn pha lệ người, 

Ô sao rượu chẳng kề môi, 

Lời đâu kiều diễm cho nguôi lòng chàng ?

Trần Huyền Trân làm thơ không nhiều, nhưng có những bài như là rưng rưng trong hơi rượu. Nhà thơ có cái bút danh “khăn yếm” (chữ của Tô Hoài) từng có những cuộc uống rượu ly biệt với Tản Đà và Lê Văn Trương. Thơ ra đời trong những lúc ấy. Khi mời mọc nhau, ai cũng muốn uống thật nhiều, vì thấy bao nhiêu cũng là không đủ.

Cụ hâm rượu nữa đi thôi,

Tham TamBe này chừng sắp cạn rồi còn đâu.

Rồi lên ta uống với nhau,

Rót đau lòng ấy vào đau lòng này.

Khi sảng khoái, nao nức không cần đến rượu bởi biết lúc nào uống cũng kịp, còn uống với nhau vào những dịp khác.

Thôi đợi mùa nao trái chín lành,

Tóc này về rúc với râu anh.

Bấy giờ hắt toẹt ba chum rượu,

Cười kể tâm tình thuở tóc xanh.

Tóm lại, với Trần Huyền Trân, rượu là kỷ niệm tình nghĩa bạn bè, là chất men nồng mang lại chút ấm áp trong cuộc đời lạnh giá.

Với một thi sĩ khác là Thâm Tâm thì còn hơn thế, con người càng uống càng tỉnh này nhìn cuộc đời cái gì cũng có liên quan tới rượu. Tu Xuong 2Với ông, rượu trở nên một thứ ngôn ngữ thường trực. Ông nhìn mưa bay bằng con mắt ấy :

Ngoài phố mưa bay : xuân bốc rượu 

Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê 

– Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt 

Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.

Nhìn cả cuộc đời thoáng qua bằng con mắt ấy :

SG Kieu Dac Them 2Người đi ? Ừ nhỉ, người đi thực ! 

Mẹ thà coi như chiếc lá bay 

Chị thà coi như là hạt bụi 

Em thà coi như hơi rượu say…

Hầu như toàn bộ thơ Thâm Tâm là tinh hoa chắt ra từ “cái sống ngang tàng quen bốc men“. Thơ viết bằng rượu, rượu làm nên thơ. Còn có vinh dự nào hơn ? (theo Vương Trí Nhàn)

Kiều Văn chuyển tiếp

Tr suy ngh 1TRUYỆN RẤT NGẮN

NHƯNG CẢM ĐỘNG

1/- Cắt móng tay cho mẹ, chợt nhận ra bàn tay mẹ toàn xương, những lóng tay khô như cọng rạ phơi mất tính hồi sinh. Bàn tay ấy từng tắm rửa cho con, vỗ vào mông để con tròn giấc ngủ. 

Áo con lành nhờ bàn tay mẹ. Con đói lòng bàn tay mẹ đút miếng cơm nhai. Giờ hai bàn tay mẹ đã gầy như không còn cách nào gầy nữa.

Mẹ cố xỏ sợi chỉ vào lỗ kim nhưng đầu sợi chỉ cứ đưa qua đưa lại không sao xỏ vào được. Con thương mẹ vô cùng.

2/- Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người.

Chị lặng lẽ đến bên má : “Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn ?”

Chưa tan tiệc, Má xin phép về sớm vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi: “Sao má chẳng ăn gì ?” Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và dĩa cá bống kho tiêu chị mang đến… 

Thieu nu 53/- Cổng trường ngày thi đông nghẹt thí sinh & phụ huynh. Những gánh hàng, dãy quán mọc lên san sát trên khoảng đất trống cạnh trường. “Út, Út, Út ơi !”. Cô học trò lúng túng tách khỏi đám bạn, đi về phía tiếng kêu. “Ăn đi con. Xôi đậu. Thi sẽ đâu đấy”. “Con ăn rồi. Sao má lại ra đây !”. Cô quày quả vào trường, vội vàng như trốn chạy…

…Mùa thi lại về. Cô giáo trẻ tần ngần trước cổng trường nhộn nhịp. Giọt nước mắt muộn màng đọng nơi khóe mắt. “Con mãi sẽ không đậu khi chối từ gánh xôi của má. Má ơi!”. 

4/- “Má! Má lên đây làm gì?”. Cô sinh viên sắp nhận bằng cử nhân giãy nảy lên hỏi người mẹ quê mùa còm cõi. 

– “Má nghĩ bán một bữa lên coi con lãnh bằng tốt nghiệp”. 

– “Không được đâu ! Bữa nay bạn con đông lắm, mà má lại ăn mặc thế này…”.

SG Ph Tat Dai– “Thì má có còn bộ nào khác đâu. Thôi cho má vào. Má…”.

– “Thôi, thôi, má về đi. Con thì thế này, má thì thế kia… Tụi bạn con nó cười…!”. Nói rồi, cô sinh viên xinh đẹp chạy ào vào trong hội trường…

Vừa lúc người xướng tên giới thiệu: “Sinh viên Phạm Thị P.X. là một trong những sinh viên xuất sắc của trường”. 

Phan Tất Đại chuyển tiếp