THẾ GIỚI QUANH TA (44)

Logo TG quanh ta 1

9 Hoa mai 1NGÀY XUÂN NÓI VỀ

24 LOÀI HOA MAI

Trên đất nước Việt Nam, người ta thường biết đến hoa mai qua loại hoa mai vàng năm cánh đặc trưng xưa nay mà người ta còn gọi là mai rừng, mai tự nhiên hay mai thiên nhiên chỉ có năm cánh, hoa nhỏ và thân cao to có khi đạt đến chiều cao hơn chục mét, hương thơm thoang thoảng, lây lất mùi gỗ rất dễ chịu và mát, không nồng và đậm như một số loài hoa khác.

Nhưng thật ra, trên thế giới có tất cả hai mươi bốn loài mai thuộc họ mai tức là chi họ Ochna (Ochnaceae) khác với loài mai mơ gần giống như hoa đào của Trung quốc có màu trắng hoặc trắng hồng, cánh nhỏ, nhụy rậm và dày thường mọc thành chùm và hoa rậm, thân giống cây hoa đào, đoạn xù xì, đoạn trơn láng, màu xanh, da bóng và mọc cao to như cổ thụ.

Hoa mai tại Việt Nam mọc phổ biến ở miền Trung và miền Nam, đa phần là mai rừng tự nhiên. Sau này, người ta sử dụng một số loại mai ghép lại với nhau và cho ra đời một loại mai nhân tạo đó chính là mai giảo nhiều cánh, số lượng cánh có thể lên đến hàng chục cho đến hàng trăm cánh xếp chồng lên nhau thành một đóa hoa dày và lớn.

Nhưng thật ra, hoa mai vàng trong tự nhiên cũng có loài đạt đến số lượng cánh rất cao (từ 12 cho đến 18 cánh). Mai tự nhiên có mùi hương tự nhiên rất thơm và thường nực nồng vào buổi sáng và dần dần mất mùi vào những khoảng thời gian còn lại trong ngày. Có lẽ vì buổi sáng sớm, nhiệt độ còn thấp, sương chưa tan nên hương thơm còn giữ lại trong không khí, đến khi mặt trời lên, nhiệt độ tăng dần, sương tan hết cũng là lúc hương hoa cũng tản ra trong không khí nên chúng ta nghĩ là hoa mất mùi sau khi mặt trời lên cao.

Hoa mai tại Việt Nam có mười tám loại như sau:

1/– Mai năm cánh : Loại mai vàng mọc phổ biến tại miền Trung (Từ Đà Nẵng, Quảng Nam cho đến Khánh Hòa) và trên dãy trường Sơn trong những khu rừng già. Đây là loại mai năm cánh tự nhiên, hoa nhỏ, thân vừa và nở hoa không nhiều và rậm như một số loài mai khác mà nở thưa thớt. 9 Hoa mai 2Nhưng nếu lạc vào rừng mai này vào mùa xuân thì chúng ta sẽ thấy sắc hoa vàng rực rỡ cả một khu rừng, cả một triền núi và xác hoa rơi có khi vàng cả một dòng suối. Hương thơm ngập tràn và lan tỏa cả một vùng rộng lớn. Ở một số ngọn núi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như tại vùng Thất sơn (Bảy núi) cũng có loại mai này nhưng ít hơn và rải rác không tập trung.

2/– Mai núi : Cũng là một loại mai rừng nhưng có số lượng cánh nhiều hơn từ 12 cho đến 18 cánh, có khi còn hơn thế nữa. Mai này mọc trên những núi đá khô khốc và sống chủ yếu bằng hơi sương, nước mưa và nước ngầm trong lòng đất cộng với khí hậu ẩm thấp của miền núi. Loài mai này thường xuất hiện nhiều tại các vùng núi thuộc Tây Nguyên và nước bạn Campuchia.

9 Hoa mai 3

3/– Mai chủy Cũng là một loại mai rừng nhưng thân cây rất to, hoa nhiều, lá rộng, xanh bóng và có hình răng cưa. Loại mai này có hoa mọc thành chùm rất đẹp nên gọi là mai chủy (chủy có nghĩa là chùm, quần thể, quây quần lại, đặc nghẹt).

4/– Mai động, mai sẻ : Là một loại mai chuyên mọc ở những vùng cát trắng gần biển. Loại mai này có thân suôn thẳng và tròn và trổ bông thưa thớt. Nếu chúng trổ năm cánh thì gọi là mai sẻ, còn nếu có hơn năm cánh thì đúng là loa mai động. Mai động và mai sẻ mọc rải rác từ các tỉnh từ Quảng Bình, Quàng Trị vào tận các vùng duyên hải thuộc miền trung và có khi thấy chúng ở các vùng đồi cát trắng thuộc miền nam như Tây Ninh, Đồng Nai, Biên Hòa v..v..

5/– Mai chùm gửi, mai Tỳ bà, mai vương : Là một loại mai sống nhờ trên thân cây khác, nhất là các loại cây cổ thụ to lớn. Chúng sống bám vào thân cây, một phần hút chất dinh dưỡng từ đất, một phần hút chất dinh dưỡng từ cây mà chúng bám vào. Không giống các loại chùm gửi khác chỉ bám trên thân cây khác, mai chùm gửi sống phân nửa dựa vào bộ rễ bám vào lòng đất của nó. Mai chùm gửi có thân ghồ ghề, cứng và xù xì cùng với những khối u kì dị. Chồi và tược cũng như hoa đâm ra từ những khối u đó. Hoa trổ khá dày và khít thành từng chùm đặc nghẹt. Có nơi còn gọi nó là 9 Hoa mai 4mai tỳ bà hay mai vương.

6/– Mai hương, mai thơm hay mai ngự: Là một loại mai vàng có mùi hương rất thơm, thơm hơn tất cả các loài mai khác. Mùi hương của nó rất đặc biệt và có lẽ là nồng nàn hơn tất cả các loài mai nên nó được gọi là mai hương cho đúng với tính chất đặc biệt của loài mai vàng năm cánh này. Ở Bến Tre cũng có rất nhiều loại mai này mà người dân ở đây gọi nó bằng một cái tên rất miệt vườn là “Mai thơm” vì nó rất thơm, thơm hơn những loại mai thông thường mà người dân Nam bộ thường gặp. Ở Huế, loại mai này còn được gọi là “Mai ngự” vì nó được trồng trong cung và rất được Hoàng tộc mến chuộng dùng làm quà biếu cao cấp nên nó gọi là “Mai ngự”.

7/– Mai châu (Mai trâu) : Là một loại mai trổ hoa rất lớn, hoa của loài mai này lớn một cách lạ thường, cánh to và rộng, màu vàng rực. Mỗi đóa hoa có đường kính hơn 5cm nên người ta gọi nó là mai trâu mà người Nam bộ thường đọc trại ra thành “mai châu”.

9 Hoa mai 5

8/– Mai liễu : Là một loại mai có cành rất mềm và rũ xuống như cây liễu, hoa trổ rất ít. Lá mai nhọn và nhỏ, thon dài như lá liễu nên được gọi là mai liễu.

9/– Mai nhọn : Là một loại mai có lá dài và nhọn, nụ hoa và cánh hoa cũng có hình dạng tương tự.

10/– Mai Cà Ná : Là loại mai đặc trưng mọc tại vùng biển Cà Ná thuộc tỉnh Ninh Thuận. Loài mai này có thân nhỏ, èo uột, cành rất giòn, dễ gẫy, lá hình bầu dục, trơn láng và có răng cưa quanh rìa lá. Người dân ở đây gọi nó là mai rừng Cà Ná.

9 Hoa mai 611/– Mai Vĩnh Hảo : Vào địa phận của tỉnh Bình Thuận, huyện Tuy Phong, xã Vĩnh Hảo, nơi có nguồn nước khoáng thiên nhiên nổi tiếng nhất Việt Nam là “Nước khoáng Vĩnh Hảo” thì có một loại mai vàng nữa cũng là loài đặc trưng của vùng này, không khác gì mấy so với mai Cà Ná nhưng nó lại được người dân ở đây đặt cho cái tên theo địa danh nơi nó đang sống là “Mai Vĩnh Hảo”. Mai Vĩnh Hảo có thân cứng, lá nhỏ, hoa to và phẳng, đặc biệt rất lâu tàn.

12/– Mai tứ quý : Loài mai đặc trưng của vùng Nam bộ. Mai này cũng trổ hoa vàng nhưng sau khi cánh hoa rụng đi thì đài hoa còn lại năm cánh màu đỏ với nhụy hoa và ba hạt màu đen như hạt đậu. Năm cánh hoa màu đỏ cũng tròn trịa và giống hình một đóa hoa mai. Do tính chất nở hai lần trên cùng một đóa nên người ta còn gọi mai tứ quý là nhị độ mai. Mai này trổ bông lác đác quanh năm nên mới gọi là mai tứ quý (xuân, hạ, thu, đông đều trổ hoa). 9 Hoa mai 7Mai tứ quý thân sần sùi và đen. Có cây phát triển rất to và cao nhưng đa số là những cây lâu năm. Càng lâu năm nhìn nó càng cổ kính và chắc chắn.

13/– Mai giảo : Là loại mai có rất nhiều cánh được ghép lại từ nhiều loại mai khác nhau trên cùng một cây mai. Mai giảo lấy gốc mai vàng làm chủ đạo, sau đó ghép nhánh của các loại mai khác vào để cho ra đời một loại mai có rất nhiều cánh, rất nhiều màu sắc trên cùng một cây mai. Loại này là loại mai nhân tạo mà chúng ta thấy rất nhiều hiện nay trên thị trường mai Tết.

Sáu loại mai trên thế giới:

14/1– Mai vàng Campuchia (Mai Cao Miên) : Tên khoa học là Ochna integerrima. Hoa mai có từ 5 đến 9 cánh, khi nở ra thì úp ngược về phía cuống hoa chứ không xòe rộng như các loại mai Việt Nam, hoa có màu vàng tái (sậm gần như cam đậm). Loại mai này cũng có thấy ở Việt Nam, phần nhiều mọc trong những khu rừng thuộc miền Nam và miền Trung. Chúng là loài cây hoang dã cũng có phân bố ở một số nơi có cồn cát nóng và ven những bờ sông râm mát.

9 Hoa mai 8

Mai vàng Campuchia thuộc dạng thân gỗ, nhánh gầy, mảnh và dài. Lá đơn màu xanh nhạt và bóng mọc thưa trên cành, mép lá có răng cưa nhỏ. Hoa mọc ra từ nách lá thành chùm, cuống hoa ngắn, đài hoa xanh bóng và không che kín nụ. Ở Việt nam, người ta thường dùng loại mai này để ghép thành mai giảo vì nó có khả năng tăng số lượng cánh lên rất cao. Không những thế mà hiện nay nó còn có ba màu do lai ghép là đỏ, vàng và trắng.

15/2– Mai vàng Nam Phi : Có khoảng 12 loài mai thuộc chi họ mai Ochna bao gồm dạng cây lẽ và cây mọc thành bụi. trong đó có hai loài phổ biến là Ochna pretoriensis và Ochna pulchra. 9 Hoa mai 9Hai loài này xuất hiện rất nhiều tại vùng Koppie. Loài Ochna pulchra cao khoảng 37m, vỏ cây thường có hiện tượng tróc ra, lá dễ rụng. Chúng mọc hoang dã ở rừng, vỏ cây màu xám, xù xì ở gốc, nhánh thân cây bị tróc vỏ màu kem nhạt. Mai Châu Phi có hai màu vàng và hồng. Ngoài ra, ở Nam Phi còn có các loại mai rất giống với mai tứ quý tại Việt Nam.

16/3– Mai vàng Myanmar (Miến Điện) : Ở đất nước Phật giáo này có một loài mai mang tên khoa học là Ochna serrulata gần giống với loại mai Nam Phi. Tuy nhiên, hình thức của hoa mai có khác đôi chút ở chỗ cánh hoa bẹt hoặc có bầu noãn đỏ như mai tứ quý, tồn tại rất lâu trước khi rụng hoàn toàn.

17/4– Mai vàng Indonesia: Có tên khoa học là Ochna kirkii Oliv, Ochna serrulata. Tất cả đều có nguồn gốc từ Châu Phi. Tuy nhiên do địa chất khác nhau nên chúng có ngoại hình lớn hơn mai Châu Phi. Có loài nở hoa vào mùa xuân, mùa hè hoặc nở cả bốn mùa như mai tứ quý.

18/5– Mai vàng Madagascar: Là loại mai có tên khoa học là Ochna greveanum với năm cánh tròn trịa, dúm bèo theo rìa cánh giống như mai cánh dúm ở Việt Nam,9 Hoa mai 10 lá mai dài và rũ xuống từng chùm.

19/6– Mai vàng Châu Phi: Khác với mai vàng Nam Phi vì nó giống mai vàng năm cánh của Việt Nam nhưng có tên khoa học khác là Ochna thomasiana thuộc dạng cây bụi, lá hình oval, đầu lá nhọn và bén dài khoảng 10cm. Hoa rộ trên cành vào mùa xuân nhưng đôi khi lại bất chợt nở hoa vào mùa hè với số lượng ít hơn. Cánh hoa thon dài khoảng 2cm, đài hoa bung ra rộng và trở thành màu đỏ tía, bên trong có trái non màu xanh giống như mai tứ quý của Việt Nam.

Đó là 19 loại mai của Việt Nam và thế giới, trong đó có loài thứ 4, thứ 6 và thứ 7 đã mang bảy cái tên khác nhau theo cách gọi của dân gian Việt Nam. Nếu tính tổng cộng là có 24 loài mai trên khắp thế giới hoặc có thể còn nhiều hơn nữa. Đúng là hoa mai rất đa dạng và phong phú chủng loại.

Ở Trung Quốc, họ vẫn gọi cây đào là cây mai vì có nhiều loại rất giống hoa mai nhất là hồng đào và bạch đào mà họ hay gọi là hồng maiSG Ph Tat Dai và bạch mai nhưng cánh mai tròn và nhỏ như cánh đào, nhụy hoa rậm và dày, thân cây giống hệt như cây đào nên thường gọi là đào chứ không gọi là mai.

Đầu năm nói chuyện về sự phong phú của cây mai để chúng ta cùng nhau tìm hiểu về loại hoa đặc trưng của mùa xuân này. Hoa mai là biểu tượng của sự may mắn, tốt đẹp, một sự khởi đầu hoàn hảo và thịnh vượng cho một năm mới. Hoa mai còn có ý nghĩa xua đuổi những điều xấu xa, không tốt đẹp cho một năm luôn được bình an, hanh thông và phát đạt.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Logo tim hieu

9 Geisha 3GEISHA, NGHỀ NỐI LIỀN

TRUYỀN THỐNG VỚI HIỆN ĐẠI

– Thu Hằng

Cuốn tiểu thuyết “Geisha”, tác phẩm đầu tay của nhà văn Arthur Golden, được xuất bản năm 1997 kể về cuộc đời của một geisha nổi tiếng Nhật Bản. Dựa trên một câu chuyên có thật, được khảo cứu công phu và điểm thêm nhiều tình tiết hư cấu, tác phẩm thu hút người đọc và giúp hiểu được phần nào thế giới geisha đầy bí ẩn.

Geisha” được chuyển thể thành phim năm 2005 dưới bàn tay của đạo diễn Rob Marshall với tên gọi mới “Hồi ức một Gheisha” (Memoirs of a Geisha) cùng với những gương mặt diễn viên nổi tiếng Trung Quốc và Nhật Bản, như Chương Tử Di, Củng Lợi, Dương Tử Quỳnh, Ken Watanabe, Youki Kudoh, Suzuka Ohgo.

Với một người phương Tây, hình ảnh một geisha thường bị gắn liền với cô gái buôn hương bán phấn, dù không phải như vậy. “Geisha là trường hợp đặc biệt”, như lời khẳng định của ông Frédéric Roustan, giảng viên đại học Aix-Marseille. Nhà nghiên cứu vấn đề người nhập cư Nhật Bản tại Bắc Kỳ trong thời kỳ Đông Dương thuộc địa Pháp đã dành cho Ban Tiếng Việt đài phát thanh RFI một buổi phỏng vấn giúp giải thích rõ hơn về geisha.

“Geisha”, người làm nghệ thuật

Trước hết, ý nghĩa của từ “Geisha” là gì ? Ông Frédéric Roustan giải thích :

9 Geisha 2«Từ “Geisha”, nếu dịch chính xác từ tiếng Nhật, có nghĩa là một người làm nghệ thuật, một người vì nghệ thuật. Cụ thể là trong một buổi chiêu đãi, geisha chơi đàn, ca múa và phục vụ trà rượu cho khách. Dù trong thời kỳ trước hay hiện nay, quá trình đào tạo vẫn tuân theo cùng một khuôn mẫu như nhau.

Nếu có khác biệt là chỉ có thêm một số yếu tố mang tính chất đương thời, như hiện tại có các luật cấm trẻ em lao động. Một trong số các khó khăn hiện nay của nghề này là vấn đề tuyển người vì các em gái phải ngừng học. Sau đó, còn phải kể tới vấn đề bảo hiểm xã hội và hưu trí. Vì vậy, rất khó tuyển được những thiếu nữ trẻ ».

Nếu như trước đây, hoàn cảnh nghèo khổ đưa đẩy các bé gái trở thành geisha, thì ngày nay, nghề này trở thành ý thích và sự đam mê của một số người. Hoàn cảnh của các thiếu nữ thời hiện đại muốn học nghề tương đối đa dạng. Tiền bạc không phải là một vấn đề đối với họ vì geisha là một nghề thực sự khó khăn và chắc chắn người ta không thể làm giầu nhờ nghề này được.

Vào những thế kỷ trước, các bé gái xuất thân từ những gia đình nghèo ở nông thôn thường bị cha mẹ bán cho chủ một tiệm trà (okiya). Để có thể đào tạo được một geisha, các chủ tiệm trà thường phải đầu tư rất nhiều, từ việc trả tiền “bán con” cho 9 Geisha 1cha mẹ, tới các khoản đầu tư vào hình thức bên ngoài của một geisha, như kimono, phấn son, nhạc cụ… nên ngay từ ngày đầu tiên đặt chân vào một tiệm trà, các bé gái học việc đã phải gánh một khoản nợ lớn.

Nhưng trước khi được học các bộ môn nghệ thuật để trở thành một maiko, geiko rồi cuối cùng là geisha, các em bắt đầu bằng công việc tay chân của một người giúp việc : dọn nhà, giặt quần áo cho các chị, phục vụ tiệc trà khi các chị có khách…

Giai đoạn đầu tiên, các em chỉ đi theo và quan sát các chị cả. Các em không có khách, nhưng vẫn có thể tham gia vào các buổi tiệc buổi tối. Ngoài quan sát, các em còn phải học cách mặc áo kimono, học nghệ thuật giao tiếp và các trò chơi khác nhau.

Trong vòng 5 năm sau đó, các em phải liên tục học nhiều kỹ năng khác nhau như học các điệu múa truyền thống, chơi nhạc cụ dân tộc (đàn luýt và đàn tam huyền), hay nghệ thuật ứng xử. Vào độ tuổi đôi mươi, các em được « lên chức » geiko.

Nguồn gốc và quá trình phát triển nghề geisha

Nhà nghiên cứu Frédéric Roustan ngược dòng lịch sử để giải thích về nguồn gốc nghề geisha :

«Trong thời kỳ Heian (Bình An, 781-1185), chúng ta có thể thấy rất nhiều vũ nữ triều đình ca múa để mua vui cho tầng lớp quý tộc (shirabyôshi). Đây được coi là một kiểu tổ nghề geisha. Từ geisha xuất hiện vào giữa thế kỷ XVII, dưới thời kỳ Edo (Giang Hộ, 1603-1868) và được sử dụng tại các phòng trà trong những khu phố vui chơi giải trí. Sau này, chính quyền quyết định quy hoạch riêng các khu vực này cho nghề geisha, đồng thời gộp luôn cả gái mại dâm và đặt tên là “khu phố cấm”.

9 Geisha 4Lúc đầu, cả nam và nữ giới đều có thể trở thành geisha. Geisha nam được gọi là “otoko geisha” và geisha nữ là “onna geisha”. Có một giai đoạn, chính quyền Shogun (tướng quân) quyết định cấm nữ giới hành nghề này nên cụm từ geisha được giành riêng cho nam giới. Tuy nhiên, nữ giới vẫn tìm cách hành nghề bất hợp pháp, chọn nghệ danh nam và mặc trang phục nam giới để che dấu thân thế. Đúng là dưới lớp phấn trang điểm, rất khó nhận ra được đâu là phụ nữ, đâu là đàn ông.

Sau đó, vào khoảng giữa thế kỷ XVIII (thời kỳ Hôreki/Bảo Lịch), cụm từ geisha lại chỉ giành riêng cho phái nữ. Đàn ông vẫn tiếp tục hành nghề này nhưng dưới một tên gọi khác, “taikomochi” (tạm dịch là “người mang trống”), một nghề từng tồn tại trước nghề “geisha”. Cũng trong giai đoạn này, đạo luật tướng quân (Shogun) cấm geisha hành nghề mại dâm. Có nghĩa là geisha chỉ chuyên về làm nghệ thuật và mua vui cho khách hàng bằng nghệ thuật chứ không phải bằng xác thịt ».

Thế nhưng, những cô gái geisha lại bị dồn vào sống chung trong “khu đèn đỏ”, thời kỳ đó ở Tokyo nổi tiếng nhất là Yoshiwara. Một số người từ chối sống cùng khu phố mại dâm nên bỏ ra ngoài. Họ hợp sức mở các trường đào tạo tại các khu phố như Gion ở Kyoto hay Fukagawa ở Tokyo. Người ta gọi họ là “geisha thành phố” nhằm phân biệt với geisha tại các “khu phố đèn đỏ” ở ngoại ô hay tại các cửa ô thời trước.

«Các geisha thành phố gây dựng thanh danh và tách biệt hẳn về mặt địa lý. Dường như giữa “geisha thành phố” và “geisha khu đèn đỏ” có sự cạnh tranh ngấm ngầm vì “geisha khu đèn đỏ” thường hay vượt giới hạn giữa hai nghề, geisha và mại dâm, dù luật pháp nghiêm cấm. Tr phu nu Nhat 1Thực ra, đôi khi chỉ vì lý do kinh tế do phải cạnh tranh giành khách hàng nên họ chấp nhận mọi yêu cầu của khách.

Và để phân biệt với gái mại dâm, từ năm 1779, các geisha được ghi tên vào các danh sách riêng, có nghĩa là có hai sổ đăng ký riêng. Và gần một thế kỷ sau, vào năm 1872, nghề này lại được chính thức công nhận trong hệ thống chính trị mới của triều đại Meiji (Minh Trị) và hoàn toàn tách biệt khỏi nghề mại dâm ».

Geisha, một nghề kén khách

Geisha thời hiện đại tiếp tục công việc như trước đây, có nghĩa là người mua vui trong những bữa tiệc. Dĩ nhiên, trong những sự kiện như vậy thường có nhiều geisha. Các cô gái trình diễn các điệu múa truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác, ca hát và chơi những nhạc cụ cổ truyền Nhật Bản. Họ được đào tạo để có thể tiếp chuyện một cách tinh tế và cùng chơi một số trò tiêu khiển với khách hàng.

Nói một cách ngắn gọn, những geisha hoàn toàn biết cách thích ứng với nhu cầu, sở thích và tính cách của mỗi khách hàng. Nhờ đó, mỗi bữa tiệc được biến hóa theo yêu cầu của khách, dĩ nhiên là trong giới hạn nghề nghiệp cho phép.

Làm thế nào để có thể liên lạc được với một geisha ? Và một buổi tiệc diễn ra như thế nào ?

«Đúng là không phải ai cũng có thể tiếp xúc được với một geisha. Để trở thành khách hàng, dĩ nhiên họ phải có điều kiện tài chính. Ví dụ, để vui chơi cùng với một geisha trong vòng hai tiếng đồng hồ, khách hàng phải trả khoản thù lao chừng 500 euro.9 Geisha 5 Dĩ nhiên đây chỉ là con số tương đối vì người ta không bao giờ tiết lộ giá của một geisha. Ngoài ra, còn phải thêm chi phí cho bữa ăn hay tiền thuê phòng. Như vậy, tổng số tiền có thể lên tới 800 euro cho hai giờ.

Ngoài lý do tài chính, khách hàng còn phải tôn trọng một số nghi lễ. Như vậy, họ phải có trình độ văn hóa, chứ không phải chỉ có tiền là đủ. Để trở thành khách hàng của một geisha, người ta không thể tự động tới một phòng trà và yêu cầu một geisha. Họ phải được một người khách quen của phòng trà đó giới thiệu và bảo lãnh khách hàng mới : về mặt tình dục, bắt buộc họ phải tôn trọng những quy định về cách hành xử ; về mặt tài chính, đảm bảo khách hàng không “quỵt” hóa đơn. Vì họ không yêu cầu khách hàng thanh toán ngay sau buổi tiệc mà hóa đơn sẽ được gửi vào cuối tháng. Sau đó, khách hàng mới lấy hẹn.

Tại buổi tiệc, ngoài các món ăn truyền thống Nhật Bản, nhưng thường không do phòng trà chuẩn bị mà được đặt từ các nhà hàng khác, dĩ nhiên còn có trà và thường xuyên là rượu. Trong bữa ăn, gheisa biểu diễn nghệ thuật và nói chuyện với khách hàng. Đối với những khách quen, họ thường lui tới một phòng trà duy nhất và chỉ gặp một geisha quen. Nếu “la cà” hết từ phòng trà này sang phòng trà khác, người khách sẽ bị đánh giá thấp.

Có thể nói là bữa tiệc diễn ra khá đơn giản. Geisha và khách hàng cũng có thể bắt đầu buổi tiệc bằng một vài trò chơi, như thách nhau uống rượu hay chuốc rượu cho nhau. Sau đó, geisha ca múa hay đàn hát. Thông thường, khi một geisha múa, 9 Geisha 6thì các thầy dậy (phụ nữ) hay các nhạc sư đệm đàn ».

Cố đô geisha Kyoto thời hiện đại

Các khu phố geisha ở cố đô Kyoto, Nhật Bản, dường như không thay đổi từ thế kỷ XVII tới nay. Thu mình trong bộ kimono thít chặt, khuôn mặt phủ phấn trắng, các geisha, hay đúng hơn là «geiko» (hiện có tổng cộng 175 geiko tại Kyoto), lướt dọc các con phố lát đá tại khu phố Gion để đến cuộc hẹn tại các phòng trà.

Rất ít khi trả lời báo chí, Kikumaru, 31 tuổi, một geiko nổi tiếng tại cố đô Kyoto thổ lộ với phóng viên của AFP rằng :

«Mọi người cứ hình dung đây là một nghề thú vị, nhưng đây là một cuộc thử thách thật sự. Chúng tôi phải hi sinh tuổi thơ để luyện tập trở thành geisha và nhiều khi chỉ muốn bỏ cuộc. Vì thế phải vượt qua được những giai đoạn nản lòng này ».

Thời điểm khiến các thiếu nữ học việc thấy tủi thân có lẽ là lúc gặp các bạn cùng trang lứa tới trường.

Kikumaru tâm sự : «Một maiko đang trên đường tới một buổi chiêu đãi mà gặp một nhóm học sinh mặc đồng phục, cô ấy thường hình dung ra sau buổi học các bạn sẽ đi ăn chung với nhau, trong khi em đang quỳ gối trên một chiếc thảm (chiếu). HNg Huynh V. Yen 2Cô bé cũng không có cuộc sống riêng, phải sống chung với ba hoặc bốn thiếu nữ khác… và bị cấm sử dụng Facebook hay bất kỳ mạng xã hội nào ».

Geisha được đánh giá là người giúp bảo vệ và duy trì bản sắc văn hóa, truyền thống của Nhật Bản đang dần bị mai một. Trở thành một geisha không những chỉ đòi hỏi niềm đam mê với nghề mà còn cần tính nhẫn nại, sự bền bỉ và sự hi sinh.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo thu thuat