HỒI KÝ NGHỀ LÀM BÁO TRƯỚC 1975 (1)

Logo Van nghe

Ng Viet 1HỒI KÝ NGHỀ LÀM BÁO

TRƯỚC 1975 (1)

– Nguyễn Việt

Khi bước chân vào nghề báo, người yêu nghề phải biết lựa chọn 1 trong 2 cách để tiến thân :

– Thứ nhất : kinh qua các trường lớp chuyên nghiệp để được đào tạo chính quy; nhưng thông thường các trường đại học, trung học chuyên nghiệp chỉ giảng dạy bằng những lý thuyết từ chương, đến khi vào nghề giữa lý thuyết và thực hành lại rất xa rời thực tế. Lý do : vì điều kiện tờ báo, vì mục đích tôn chỉ tờ báo khi xin phép xuất bản, và còn do đồng vốn; cuối cùng là do nhiệm vụ được ban biên tập giao trách nhiệm.

Và nếu bạn là một sinh viên mới ra trường, bạn sẽ không có quyền chọn lựa giữa năng khiếu và sự trưởng thành trong đào tạo; mà nhất định phải chịu sự điều phối từ ban biên tập.

Đây là mấu chốt trong nghề làm báo hay viết báo, khi bạn mới chân ướt chân ráo vào nghề.

– Thứ nhì : nói như thế, trước khi chọn lựa đi vào nghề này bạn phải có người đỡ đầu, hoặc người hướng dẫn trong nghề nghiệp, và phải đi từng bước vào nghề, đừng vội đi hia bẩy dặm. 9 Nghe bao 1Những người đỡ đầu ấy, hoặc đứng tuổi hoặc có thâm niên trong nghề, thì thật quý.

Kinh nghiệm của người viết khi vào nghề báo, đã phải đứng trước hai sự lựa chọn :

– 1- làm phóng viên (viết báo)

– 2 – làm biên tập viên (làm báo).

Và người viết đã chọn nghề làm biên tập.

– Nghề làm báo có 2 loại, loại chuyên nghiệp và loại không chuyên. Loại chuyên nghiệp có thể làm đủ mọi thể loại sách báo, có thể thay đổi mọi hình thức của tờ báo, thay đổi cả quan điểm lập trường của tờ báo, theo bất cứ yêu cầu nào của chủ báo.

Còn không chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, là chỉ thực hiện theo mẩu mã đã định sẵn (từ nội dung đến hình thức), sẽ không thích nghi theo yêu cầu thị trường, dể gây nhàm chán trong xử lý tin tức.

– Thứ nhất người làm báo và viết báo, phải nắm được tính thời sự của tin tức, biết khai thác đúng lúc không quá sớm hay quá muộn.

– Thứ hai biết nhận xét và phân tích sự việc như một điều tra viên, sau đó mới có phương hướng đi tìm tài liệu.

– Khi điều tra phải hiểu rõ trạng thái tâm lý người mình muốn khai thác, phải có bản lĩnh hỏi đáp với đối tượng và luôn luôn phải chứng tỏ mình là người đang nắm rõ vấn đề.

– Thứ ba khi viết bài, phải viết cô đọng, viết báo không như làm luận văn phải có mở đầu, thân bài và kết luận, hãy vào đề ngay với sự kiện chính trong tin tức, sau đó mới đi vào chi tiết. Như thế bài viết sẽ dẫn dắt người đọc, tạo cảm giác cho người đọc không phải đọc thừa, để tránh gây nhàm chán và choán chỗ trên trang báo (vốn dĩ rất cần nhiều tin tức, mà số trang chỉ có giới hạn)

9 Nghe bao 2– Người làm báo biết hướng dẫn phóng viên đi đến nơi đâu để khai thác đề tài. Khi người phóng viên viết xong, phải sửa bài cho đúng đường lối nội dung tôn chỉ của tờ báo (gồm nhiều yếu tố chủ quan và khách quan), cắt tỉa hay thêm thắt cho bài viết ấy thêm sinh động (action) hơn.

Từ nội dung vụ việc, người làm báo sẽ ấn định, bài được đăng với tít (titre) mấy cột báo (báo ngày trước có 8 cột, mỗi cột chiếm 4,5 cm – nay là 5cm

Thông thường những tin chủ lực trong ngày đều cho lên tít 8 cột từ 1 đến 2 dòng, xuống từ 4 đến 2 cột tùy theo cách trình bày tờ báo. Những tin tức bài vỡ thuộc dạng cần gây chú ý hàng nhì, cho lên tít từ 6 đến 4 cột và nằm nơi phần trên của nửa tờ báo, sau đó là những tít phụ và những tít nhỏ (sous titre) diễn giải nội dung.

Những hàng tít này phải sử dụng câu chữ dễ gây chú ý. (bởi báo chí, không kể đến tạp chí tuần san, có quá nhiều trên sạp báo, muốn cạnh tranh và có đọc giả, người biên tập phải biết cách thu hút người đọc vào từng tin tức bài vỡ một).

Trong làng báo lúc đó (trước 30/4/1975), có nhiều tờ báo có cách trình bày trang báo (xem hình vẽ dẫn giải) :

– Trình bày theo lối Bắc, là những hàng tít chủ lực không bao giờ đi quá 4 cột, tít chữ cỡ 2cm cao, chữ không chân, không có nhiều tít phụ, và không có phi-lê (filet) bỏ dọc phân theo từng bài viết. Những loạt bài khác tít chữ cũng chỉ cao khoảng 1,2 đến 1,5cm.

Chủ yếu những tờ báo trình bày theo lối Bắc, xuất phát từ lớp người làm báo từ Bắc vào Nam năm 1954, 9 Bao 1như nhóm báo Chính Luận, Ngôn Luận, Tự Do, sau có nhóm báo Sống, Con Ong… Trong nghề gọi là trình bày theo lối Mỹ.

– Trình bày theo lối Nam, lại trái hẳn với lối Bắc, thường trên báo có hàng tít chạy dài 8 cột, loại chữ có chân cao cỡ 4 đến 6 cm, và những tít phụ cũng cao đến 2 cm, kiểu chữ không đồng bộ với tít lớn, có phi-lê gạch dưới cả hai và có từ 1 đến 2 hàng tít nhỏ (sous titre), có phi-lê bổ dọc phân ra từng bài vỡ.

Đây là cung cách làm báo cổ điển được du nhập từ thời Pháp, điển hình như những tờ Thần Chung, Sàigòn Mới, Tiếng Chuông, Lẽ Sống; sau này có Đuốc Nhà Nam, Trắng Đen, Tia Sáng, Thách Đố… Tuy có cải tiến cách trình bày trông đỡ rườm rà, do bỏ bớt những phi-lê gạch dưới hàng tít, nhìn trang báo thấy sáng sủa hơn, hoặc phóng túng đi những hàng tít có hoặc không có chân. Đây là cách trình bày báo theo Pháp khi xưa.

Trong nghề làm báo tối kỵ những cách trình bày (ngày xưa gọi là “mi” nay là “dàn trang”) như :

– Lên xuống thang. – Chữ T. – Suôn đuột.

Là những cách trình bày dễ làm người đọc thấy tờ báo không có thẩm mỹ, và như có một cái gì trái khoáy không hợp với nhãn quan.

Phải nói tờ TĐ trước 1975, là tờ báo được in offset đầu tiên tại miền Nam bấy giờ, vào năm 1971 (kể cả tuần báo, tuần san và tạp chí đang phải in typo với bản chì – mỗi bản chì nếu có nhiều antimoine cũng chỉ in khoảng 5.000 bản, là chữ đã mòn nhoè không đọc được nữa, còn mỗi bản kẽm in trên máy offset có số lượng không dưới 20.000 bản, hình ảnh chữ nghĩa rất rõ ràng dễ đọc). Lúc đó anh em họa sĩ vẽ tranh cho thiếu nhi bằng mực tàu, vẽ trên giấy bóng mờ, chụp lên bản kẽm rất đẹp, còn với loại chữ nhỏ – có co chữ 7 đến 8 points – trên báo lúc đó chưa ai dám in thử nghiệm.

Do đang giữ vai trò biên tập kiêm kỹ thuật, người viết đã mạnh dạn cho “vỗ bài” từng nữa trang báo, trên máy in Tasming, hay trên máy in typo khổ 65×100, thay cho giấy in là giấy bóng mờ, 9 Bao 2vẫn sử dụng mực in nhưng trên trang in đó được phủ lên một lớp bột nhũ màu đen (hoặc bột nhũ vàng), trước là cho mực in không bị nhoè, sau là cho dàn đèn huỳnh quang trong kỹ thuật chụp bản kẽm không lọt ánh sáng.

Thời gian này chưa ai nhập máy in offset rotative (máy in offset tự động), nên in một tờ báo có số lượng ấn hành hàng ngày trên 100.000 bản, phải sử dụng ít nhất là 10 máy in Offset bán tự động (bình quân mỗi giờ chỉ in được từ 4.000 đến 6.000 bản/mặt), và do thời gian in không được kéo dài quá 3 tiếng trước lúc báo phát hành.

Thời gian trước 1975, các báo phát hành vào buổi chiều, các trang trong và trang quảng cáo được in vào buổi sáng, còn trang ngoài thợ sắp chữ làm từ 5 giờ sáng đến 10 giờ 30 phải kết thúc, đến 11 giờ đưa montage, rồi chụp bản kẽm, khoảng 12 giờ báo bắt đầu in để đem nạp bản, 1 giờ trưa báo mới được phép phát hành.

Nhưng việc in ấn phát hành sẽ không quá 3 giờ chiều phải hoàn tất, vì các đơn vị phát hành sẽ không đến nhận báo giao đi nữa. Giờ giấc bị hạn chế và ràng buộc, nên số lượng in càng nhiều càng phải có nhiều máy in ra cho đúng lịch nói trên,

Khu nhà in ngày trước thường tập trung tại đường Phạm Ngũ Lão, Lê Lai và Võ Tánh (trước 1975 gọi là quận 2, nay là Q.1), đa số là máy in typo hoặc được trang bị thêm máy offset đặt tay in bìa tập san, tuần san, (sau này ngành in offset chiếm hẳn thị phần, nên các khu vực trên chỉ cho thuê làm tòa soạn báo). Nhà in lớn và hiện đại lúc đó chỉ có Indeo (Nhà máy in Trần Phú ở đường Thi Sách) và Nguyễn Bá Tòng (Liksin đường Bùi Thị Xuân, Tôn Thất Tùng), còn lại chỉ thuộc loại vừa và nhỏ đều do tư nhân kinh doanh, còn khu vực in nhà nước không nhận in gia công cho tư nhân.

Khi ngành in offset được tuyệt đại đa số báo chí ra ngày, tuần hay tháng đặt in, bấy giờ các chủ nhà in lại thi nhau nhập máy, như nhà in Nguyễn Tấn Đời (một nghiệp chủ ngân hàng trước khi ngồi tù vì vỡ nợ, cũng ra làm báo – tờ Việt Nam – và lập nhà in), mua về máy in offset rotative in 4 màu 8 trang đặt tại cao ốc Trần Hưng Đạo (gần khu Chợ Quán, Trần Bình Trọng), nhưng máy khai thác không hết công suất, vì tờ Việt Nam in ra không bán được. Đến một nghiệp chủ ngân hàng khác – ông Phạm Sanh – mua máy rotative về in báo mướn, đặt tại đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, sau này Phạm Sanh cũng đỗ nợ, vì buôn gạo cho Tổng Cục Tiếp Tế, nhà in bị trưng thu), nên khi nói về ngành in, thì từ năm 1972 trở đi miền Nam mới có những thiết bị tiên tiến hiện đại…

Làm báo xưa và nay

Ngày trước bạn có một số vốn, dù không có tay nghề vẫn có thể là một chủ báo (xin nhấn mạnh ở dây, chủ báo không đồng nghĩa với chủ nhiệm báo, vì chủ nhiệm báo là pháp nhân được nhà nước cấp giấy phép cho xuất bản báo, còn chủ báo chỉ có trong thực tế do có tiền bỏ ra làm báo, không có tư cách pháp nhân, thông thường nắm vai trò Giám đốc trị sự hoặc kiêm chức hàm chủ bút ).

Thời kỳ đó, nhiều chủ nhiệm báo cho thuê manchette (tức tên báo) để người khác kinh doanh, hay hợp tác kinh doanh, trước hết giữ được sự tồn tại của tờ báo, sau là chủ nhiệm có tiền lương hàng tháng, mà không phải suy nghĩ đến việc lời lỏ .

Làm một tờ báo, dù là báo ngày hay báo tuần, đều phải có điều kiện :

– Vốn (Ban trị sự)

– Ban biên tập (biên tập viên và phóng viên, ký giả)

9 Nghe bao 3– Địa điểm tòa soạn và nơi in

Khi hội đủ các yếu tố trên, xem như tờ báo đã đi được nữa chặng đường hình thành.

Tiền vốn : Trong tiền vốn bỏ ra, ngoài những khoản tiền ban đầu, như nơi đặt tòa soạn và nhà in, còn phải :

– Tìm ê kíp sắp chữ, mua chữ chì theo số trang được phép xuất bản (nếu tòa soạn và nhà in không ở cùng địa điểm, bắt buộc phải mua chữ chì về đây, do ê-kíp sắp chữ luôn luôn phải ở cùng địa điểm với ban biên tập). Hiện nay báo chí không còn sắp chữ chì như ngày trước, vì bài vỡ được đánh máy và dàn trang ngay trên máy vi tính (PC).

– Ban trị sự có nhiệm vụ thu chi tài chính : Chi trả lương, tiền các bản tin và hình ảnh, trả tiền gia công in, mua giấy in. Còn thu, qua các phần nhận quảng cáo và bán báo. (Trong bán báo có phần tiền thu ngay – thường do nhóm bán báo cổ động thanh toán ngay sau khi phát hành – và thu có gối đầu, do các nhà phát hành ấn định, thông thường báo ra hàng ngày bị gối đầu khoảng nữa tháng, báo tuần từ 4 đến 5 số định kỳ).

Vì vậy khi ra 1 tờ báo phải có số vốn lưu động rất lớn, nếu không tờ báo sẽ không thể hoạt động và cạnh tranh, (nếu tờ báo bán chạy, người chủ báo sẽ bớt lo, vì khoản tiền do tư nhân bán báo sẽ thanh toán rất nhanh, còn ngược lại tờ báo sẽ không đủ vốn chịu đựng được vài tháng khi bắt đầu có độc giả thường xuyên).

Ban biên tập :

– Chủ nhiệm, chủ bút (người đưa ra chủ trương đường lối chiến lược của tờ báo) – Nay thông thường do một cơ quan chủ quản nhà nước nào đó chịu trách nhiệm.

– Tổng thu ký – Thư ký tòa soạn : trình bày báo, xem xét nội dung bài vỡ tin tức, chỉ đạo đặc phái viên, phóng viên (gọi tắt là ký giả), đi thu thập tài liệu. Tổng thư ký phần lớn có nhiệm vụ coi tin quốc tế và đường lối chính trị của tờ báo, còn thư ký tòa soạn là trợ lý cho tổng thư ký, xem phần tin quốc nội và xã hội kiêm phụ trách trang trong (là 9 Trang Den 1các trang chuyên đề).

– Phụ trách chuyên đề : Thông thường tờ báo ngày có những trang chuyên đề, như Văn hóa nghệ thuật (bao gồm những trang chính : Điện ảnh – Sân khấu – Tân nhạc – Thoại kịch – Cải lương), Phụ nữ Gia đình (bao gồm những nội dung tình yêu, hôn nhân, gia đình và xã hội), Văn nghệ (gồm những mục thơ, truyện ngắn, thiếu niên nhi đồng). Và những tiểu thuyết đăng nhiều kỳ (feuilleton) của các nhà văn.

– Phụ trách kỹ thuật : là người theo dõi bộ phận sắp chữ (nay là bộ phận vi tính), thực hiện cách trình bày dàn trang các chuyên đề đã định, cùng tư duy người phụ trách, làm sao cho tờ báo có những hình thức lôi cuốn người đọc (sắp xếp thêm hình ảnh, tranh vẽ vào bài vỡ v.v…).. Bộ phận kỹ thuật còn theo dõi lúc in ấn, có thẩm quyền cho in hay không, những bản kẽm vừa lên máy, hoặc khi in xảy ra những sự cố kỹ thuật trong ấn loát.

– Ký giả : bao gồm từ 2 đến 3 thành phần chính trong một tờ báo : Đặc phái viên, phóng viên và thông tín viên.

– Đặc phái viên : cũng là ký giả, nhưng được đặc phái trực tiếp điều tra, thu lượm tin tức, có sự giới thiệu từ ban biên tập, hoặc đặc phái tiếp xúc với một nhân vật VIP nào đó, là người có thể đại diện để giải quyết mà không cần xin ý kiến trước từ ban biên tập. Đặc phái viên có lúc được chỉ định đứng đầu 1 tổ điều tra.

– Phóng viên : là ký giả chỉ thực hiện những nhiệm vụ được phân công trước (như phụ trách mảng tin kinh tế, xã hội, thanh niên, phụ nữ, thể thao, văn hóa v.v…), không đủ thẩm quyền đại diện cho tờ báo để tiếp xúc với các cơ quan ban ngành xin truy cứu hồ sơ (nếu không có sự giới thiệu từ ban biên tập).

– Thông tín viên hay cộng tác viên : là những người không ăn lương tháng, chỉ ăn lương theo bài vở, tin tức được đăng (hưởng nhuận bút), không phải là người viết chính thức trong tờ báo. Thường những thông tín viên, cộng tác viên họ thường trú tại các tỉnh, thành trong nước và nước ngoài, thu nhận tin tức và quảng cáo – nếu có vụ án lớn, sẽ đề nghị báo cử phóng viên hay đặc phái viên đến cùng thực hiện.

Một loại thông tín viên khác, là những người đứng ra thành lập bản tin riêng, (những bản tin xe cán, đánh ghen, trộm cướp v.v…, 9 May inin ronéo hay pho to bán cho nhiều tờ báo, nay bán qua mạng Internet – ngày xưa có nhóm Văn Đô, Thanh Huy, Đức Hiền …)

Các báo mua các bản tin này trả tiền tháng, nhưng giá khá rẻ so với lương ký giả. Thông tín viên về hình ảnh khi được báo chọn đăng mới được tính tiền.

– Bộ phận phiên dịch : dịch các bản tin hoặc sách báo Anh, Pháp, Hoa Ngữ cho ban biên tập sử dụng hàng ngày, hoặc những tài liệu đăng trang chuyên đề.

Sự hình thành một ban biên tập gồm những bộ phận nói trên.

Cũng có nhiều tờ báo ít vốn, họ giảm biên chế tối thiểu, trong ban biên tập chỉ có tổng thư ký và thư ký tòa soạn, một vài ký giả đi săn tin, còn lại mua bài hay đặt hàng từ những người dịch, hoặc ký giả báo khác. Vì lượng tin tức từ các bản tin của Thông tấn xã, AP, UPI, Reuteur … và các thông tín viên, cộng tác viên gởi về có khối lượng thông tin khá nhiều, đủ để khai thác trong ngày… Tuy nhiên những tờ báo này không thể có sắc thái riêng biệt, không nhạy bén trước các tin tức, lý do không đủ người đi nhận tin từ các hiện trường đưa về.

Ngày trước làm một tờ báo hàng ngày, người ta cạnh tranh nhau từng tin tức, từng bài viết, chỉ cần hơn đồng nghiệp một vài chi tiết, là có thể tờ báo có số bán vượt hẳn lên.

QUẢNG CÁO

Trong nghề, để báo được sống thọ cùng đọc giả, người làm báo chuyên nghiệp phải có những cách kiếm tiền.

Như đã trình bày ở những phần trên, đi tìm những tin tức giật gân (scandal), nếu không có phải làm tít tựa thật giật gân để bán báo. Và còn một cách kiếm tiền khác là nhận quảng cáo. Tr Blogger 1Bạn đừng nghĩ đơn thuần, tờ báo chỉ nhận đăng quảng cáo từ bạn đọc, hay các cty quảng cáo đem đến. Quảng cáo trên báo có nhiều hình thức :

1- Từ bạn đọc (đa số nhờ đăng rao vặt, chúc mừng, cáo phó, cảm tạ)

2- Từ các nhóm tiếp thị, công ty quảng cáo, đưa đăng quảng cáo từ các cửa hàng, công ty, nhà máy, xí nghiệp, các sản phẩm…

3- Những quảng cáo thuộc dạng tin tức, giá đăng báo thường rất cao so với trang chuyên mục, vì nó nằm ngoài quy hoạch.

4- Và những bài cậy đăng (thông thường những bài cậy đăng là thanh minh, đính chính hoặc công bố một vụ việc gì đó).

Nói như thế để người làm báo có những kinh nghiệm về việc, làm thế nào cho tờ báo sống được.

ĐỘC QUYỀN

Cái hay của người làm báo là sự “độc quyền” được cho phép. Ngày trước báo ngày hay báo tuần, đều đăng tiểu thuyết nhiều kỳ, còn gọi là feuilleton (có khi kéo dài cả năm mới chấm dứt). Một tờ báo xuất bản trong ngày có 8 trang bài vở và 4 trang quảng cáo. Trong 8 trang bài, đã có đến 2 trang tiểu thuyết.

Một tờ báo ngày xưa thường có nhiều tiểu thuyết đăng nhiều kỳ, chia ra các thể loại (bài của những tác giả tiêu biểu) : xã hội (bấy giờ có các nhà văn như Bà Tùng Long, Dương Hà, Phương Lan), mang tính gợi dục (Lê Xuyên, Trần Đức Lai, Vũ Bình Thư), tình cảm tuổi đôi mươi (Lệ Hằng), thời đại (Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long), võ hiệp, kiếm hiệp kỳ tình (sáng tác hoặc phóng tác, dịch thuật : 9 Nha vanTừ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn, Từ Khánh Vân, Thanh Lan) v.v…

Nhiều tờ báo ngày trước thường “mua độc quyền” tên nhà văn, như tờ TĐ với nhà văn Trần Đức Lai (tức Tô Văn) nổi tiếng với tiểu thuyết “Cậu Chó”, tờ Tia Sáng với Vũ Bình Thư qua “Lệnh Xé Xác” v.v… Không báo nào có tên những nhà văn nói trên viết những feuilleton mới….

Nhưng ăn khách nhất là tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, tiểu thuyết tình cảm của Quỳnh Giao, hai nhà văn Trung Hoa một sống tại Hong Kong và một sống tại Đài Loan, được dịch hàng ngày từ báo in tiếng Hoa xuất bản tại Chợ Lớn.

Cho nên người làm báo mang tính chuyên nghiệp phải nhạy bén, biết nắm bắt yếu tố ăn khách đó. Là được đăng độc quyền.

Một chủ nhiệm báo bấy giờ không ngại bỏ tiền sang tận Hong Kong, Đài Loan mua độc quyền tiểu thuyết đang ăn khách để đăng (cụ thể tiểu thuyết võ hiệp Lộc Đỉnh Ký).

Độc quyền chỉ dài hơn các báo Hoa ngữ phát hành trong Chợ Lớn hay Việt Ngữ ngoài Sài Gòn, chừng một gang tấc hàng ngày trên báo. Tức thì người đọc đang “ghiền” tiểu thuyết Kim Dung đã đổ xô mua đọc.

Theo người viết được biết, tờ báo đi mua “độc quyền” này thỏa thuận với tác giả Kim Dung và tờ Minh Báo xuất bản tại Hong Kong (đang đăng tiểu thuyết Lộc Đỉnh Ký), hàng ngày gửi theo máy bay qua Sài Gòn, một đoạn trước khi tờ Minh Báo ấn hành trong ngày. Tuy nhiên để phá “độc quyền”, các báo “chậm chân” đã ra “chiêu” phá bĩnh, bằng cách cho người dịch viết vuốt đuôi chừng đôi ba dòng khác với tờ báo có đoạn “độc quyền”, khác hẳn khi dịch nguyên bản. Làm người đọc phân vân, không còn biết báo nào là “độc quyền” nữa. Đó là mưu mẹo của người làm báo chuyên nghiệp.

9-bokassa-2Ngoài những thủ thuật trên, có những tờ báo còn “độc quyền” khai thác những vụ án lớn :

– Như vụ “Công chúa Ba Xi – Martine – Bokassa”.

Khi tờ báo phát hiện ra vụ án mang tầm cỡ thu hút được số đông đọc giả, những người trong ban biên tập đã có quyết định “giữ đầu mối”, tức đưa “công chúa Martine” và gia đình về nơi nhà riêng ở, không cho một phóng viên báo nào khác tiếp cận, khai thác.

Trên đây là những “điển hình” về việc giữ “độc quyền”. Trong đó nói về độc quyền tác phẩm, tác giả thuộc dạng “hàng nằm” lôi kéo người đọc dài hạn, còn độc quyền tin tức thuộc dạng “hàng nóng” chỉ giữ người đọc trong một thời gian nhất định.

Còn 1 kỳ nữa – xem tiếp kỳ 2 số ngày mai

Nguyễn Việt

Logo van de

6 Pho 1TÔ PHỞ 1000 ĐỒNG

Ngày thứ 5 hạnh phúc của người nghèo Sài Gòn

Tô phở đầy đặn ngon lành nhưng chỉ có 1.000đ, là thực đơn đặc biệt của quán ăn Nụ Cười vào ngày thứ 5. Những ánh mắt vui lấp lánh của người nghèo Sài Gòn khi đến đây, lí giải vì sao nó lại được gọi là “Ngày thứ 5 hạnh phúc”.

Tháng 10/2012, chú Nam Đồng (SN 1948) cùng những người bạn của mình đã tự bỏ tiền ra thành lập quán cơm Nụ Cười, với giá 2.000 đồng/phần đầy đủ món mặn (hoặc xào), canh và trái cây. Với phương châm là quán cơm nghĩa tình, ai đến đây cũng phải được “bao no” nên quán luôn tặng cơm thêm, đến khi nào người ăn cảm thấy “đã” thì thôi.

Ban đầu, rất nhiều người ái ngại cho rằng quán bán với giá 2.000 đồng thì sẽ có vấn đề về vệ sinh, nguồn gốc thực phẩm… Tuy nhiên, bất kỳ ai một lần bước vào quán cũng sẽ thấy được sự sạch sẽ, ngăn nắp từ cái bàn, chiếc ghế. Nồi nấu ăn mỗi ngày nhưng sạch bóng không chút vết bẩn.

Vì muốn đa dạng và mọi người đến ăn cảm thấy hạnh phúc hơn nữa, các quán cơm Nụ Cười ở Sài Gòn đã thực hiện chương trình “Ngày thứ năm hạnh phúc” với các món như: phở, hủ tíu, bún bò, bún bò huế… với giá chỉ 1.000 đồng/1 tô và mọi người ăn bao nhiêu tùy thích.

9 Quan pho 1Ngày thường, quán sẽ bán hơn 400 phần cơm với giá 2.000 đồng/phần, riêng “ngày thứ năm hạnh phúc”, quán sẽ nấu hơn 1.000 phần, không giới hạn thời gian bán, sẽ bán khi nào hết suất ăn hoặc hết khách thì thôi, nên bà con không lo không có phần.

Bà Trần Thị Nguyệt (thực khách) bật khóc khi chia sẻ: “Những đứa con của tôi đã mất trong trận lũ, tôi và chồng đi khắp nơi để kiếm sống. Giờ đây, ông ấy bệnh nằm một chỗ, tôi đi bán vé số chỉ lời 1.000 đồng một tờ, nên nhiều lúc không dám ăn trưa. Tôi biết ơn, biết ơn nhiều lắm, nếu không có mấy cô tốt bụng, tôi sẽ phải nhịn đói qua ngày vì tiền chỉ dùng mua thuốc cho chồng. Ở đây, tôi được ăn cơm ngon, được đối xử như người nhà, đó là niềm hạnh phúc không thể tả nổi”.

Chị Hoàng Tâm (48 tuổi, ngụ Q.Tân Bình, đầu bếp chính) cho biết: “Tôi đứng bếp đến nay đã hơn 2 năm. Tôi rất vui khi mọi người thích món ăn mà tôi nấu. Nhìn bà con ăn ngon lành với cảm giác hạnh phúc, tôi tự nói với mình sẽ đến quán nấu đến khi nào không còn sức nấu nữa mới thôi”.

Ban đầu, vì người đến ăn thường sợ hết phần nên hay chen lấn khi xếp hàng, với mong muốn no bụng nên họ thường lấy thêm nhiều cơm sau đó bỏ phần thừa rất nhiều. Ăn xong, giấy lau, vỏ chuối đều vứt khắp nơi, nhưng hầu hết thành viên và tình nguyện viên của quán không ngại điều đó mà luôn tập thói quen tự giác cho họ bằng những bảng nhắc nhở như “Hãy nhặt hạt cơm dưới bàn của bạn lên”, “Hãy lượm cơm đổ dưới bàn, thì bạn sẽ quý tấm lòng người trao”, “Nên bỏ vỏ chuối và giấy lau vào sọt”. 9 Quan pho 2Giờ đây, quán dù đông thế nào thì mọi người đều xếp hàng, tự giác dọn chén, và bỏ rác đúng nơi quy định nên quán luôn sạch sẽ và trật tự.

Ông Hạ Lương (78 tuổi, ngụ Bà Hạt, Q.Tân Bình) vui sướng: “Tôi thường đến đây để ăn cơm vì tiết kiệm được nhiều chi phí. Hôm nay, tôi đã làm hết tập 1 (ăn xong 1 lần) giờ đi xếp hàng để làm tiếp tập 2. Từ khi có quán này tôi mới biết phở, bún bò,… có mùi vị như thế nào. Bình thường tôi không dám ăn những món này vì ở nơi khác nó quá đắt, thấp nhất đã là 15.000 đồng. Đến đây như đến một thiên đường của người nghèo chúng tôi”.

Hiện ở quán Nụ Cười 1 có 7 thành viên hoạt động thường xuyên gồm chị Võ Thị Thu Hồng (em dâu của chú Nam Đồng) người đồng hành cùng với quán từ khi thành lập đến nay, 2 sinh viên, 3 đầu bếp, 1 thư ký, cùng hơn 10 tình nguyện viên, ngoài ra quán cũng sẵn sàng nhận sự chia sẻ, giúp đỡ từ những tập thể, cá nhân khác.

9 Quan pho 3

Chị Hồng chia sẻ: “Thời anh Đồng còn là sinh viên, anh cũng thường đến ăn ở những quán cơm “bao no”, anh luôn ấp ủ một mơ ước sẽ mở ra những quán như thế để trả ơn cho chủ quán ngày xưa. Theo anh Đồng, quán tên là Nụ Cười vì anh muốn bất kỳ ai vào quán khi trở ra cũng sẽ cảm thấy phấn khởi, có thêm nhiều hy vọng và cười hạnh phúc vì được ăn no như anh ngày xưa”.

“Chú Nam Đồng là người nhân hậu và tốt tính, lúc còn khỏe, chú đến các quán thường xuyên để thăm mọi người. Bây giờ chú đã yếu nhưng hễ ai đến thăm là chú đều gửi lời chúc bà con ngon miệng. Không chỉ bán cơm 2.000 đồng ngày thường, 1.000 đồng vào “ngày thứ năm hạnh phúc”, khi nào quán nhận được nhiều sự ủng hộ về lương thực, gạo, hay chi phí, quán sẽ tổ chức những chuyến đi từ thiện đến các tỉnh vùng sâu vùng xa. Bà con nơi đó cũng rất cần những bữa ăn “bao no” như ở đây”, chị Vân Kiều (thư ký tại quán) chia sẻ.

9 Quan pho 4

Với công việc ý nghĩa của mình, quán Nụ Cười dần có được sự ủng hộ của các mạnh thường quân. Sau 3 năm hoạt động, nay hệ thống quán ăn tình nghĩa Nụ Cười đã mở rộng ra thành 6 quán, rải đều tại các quận như quận 1, quận Tân Phú, quận Thủ Đức… nhằm mang lại cho người nghèo được một bữa cơm ngon giá rẻ. (Phạm An theo Trí thức trẻ)

H1: Quán Nụ Cười ở tất cả chi nhánh trong Sài Gòn đều ngăn nắp, sạch sẽ, mở cửa từ sớm để tiếp đón người nghèo từ khắp mọi nơi.

9 Quan pho 5

H2: Vào “Ngày thứ năm hạnh phúc”, các món bún, phở ở quán đều có giá chỉ 1.000 đồng. H3: Những bà con là “mối ruột” của quán đều chuẩn bị sẵn 1.000 đồng để xếp hàng mua phiếu ăn.

H4: Quán bán với giá 1.000 đồng, hay 2.000 đồng vì mọi người muốn bà con đến ăn trong tâm trạng là họ có thể mua, trang trải bữa ăn của mình.Rat tot 2 H5: Nơi đây như ngôi nhà chung của tất cả mọi người, một nơi không có sự khó khăn, chỉ tràn ngập tiếng cười. H6: “Trong cuộc đời tôi, việc ăn một tô bún nhiều thịt như thế chỉ có trong giấc mơ, thế nhưng tôi chỉ cần trả 1.000 đồng là có thể thực hiện giấc mơ của mình”, bà Võ Thị Phụng Vân (79 tuổi, Q.1) chia sẻ.

H7: Với người già, trẻ em, người khuyết tật thì sẽ được ưu tiên vào trước, nhân viên sẽ mang thức ăn đến tận bàn, hoặc mang ra tận phía ngoài đối với người đi xe lăn.H8: Chị Tâm (bếp chính tại quán) luôn thấy hạnh phúc khi nhìn mọi người ăn ngon lành những món mình nấu. H9: Quán không thể phục vụ hết bà con trong một lần nên những người đến sau phải xếp hàng chờ đến lượt. HNg Huynh V. Yen 2Tuyệt nhiên không có chuyện chen lấn, xô đẩy.

H10: Điều đặc biệt ở quán là khi vừa bước vào, mọi người sẽ thấy những lời nhắc nhở chân thành mà ai cũng tự nguyện làm theo. H11: “Ngày thứ năm hạnh phúc” là ngày mà quán nói vui rằng mọi người cứ ăn đến khi nào thấy “đã” thì hãy về. H12: Niềm vui của mọi người khi dùng xong “một bữa no” chỉ với giá 1.000 đồng/tô.

Yên Huỳnh chuyển tiếp